HT.Thích Thanh Từ thuyết giảng
Tết Kỷ Tỵ 1989.
Hôm nay, Tết Nguyên Đán năm Kỷ Tỵ, tất cả quí Phật tử gần xa đều về chùa lễ Phật và chúc mừng năm mới. Nhân đây chúng tôi cũng nói chuyện và chúc Tết quí vị luôn. Năm Tỵ là năm con rắn, tôi cũng tùy tục mà nói chuyện đạo lý về con rắn. Con rắn trong nhà Phật đã có đề cập tới. Như trong kinh Niết-bàn đức Phật nói có một người nuôi bốn con rắn độc trong một cái lồng, chúng luôn luôn thù địch cắn xé lẫn nhau.
I.- MỞ ĐỀ
Sống trong cuộc đời muôn mặt, người muốn chọn lấy một lối đi, vạch ra một cuộc sống đầy đủ ý nghĩa và an lành, thật không phải là việc dễ. Chúng ta là khách lữ hành đang đứng trước ngã tư ngã năm, mà chưa biết cuối cùng các con đường ấy sẽ đưa đến đâu? Chọn lấy một con đường để đi đến suốt đời, phải khôn ngoan sáng suốt lắm mới khỏi hối hận về mai sau. Nhưng mà bắt buộc chúng ta phải chọn lấy, đừng nhờ nhõi, đừng nghe lời xúi giục, vì đây là con đường tự ta đi không ai thế ta được. Chọn kỹ rồi sẽ đi, là thái độ của kẻ khôn ngoan; nhắm mắt đi càn phó mặc đến đâu hay đến đó, là kẻ khờ dại, mang cả cuộc đời làm một trò chơi. Người trí phải nhìn kỹ, phải xem xét tường tận trước khi mình cất bước đi trên một con đường nào. Qui y Tam Bảo quả là đã đặt mình trên một con đường đi đến tận cùng. Đến tận đầu đường là suốt cuộc đời của chúng ta. Việc làm này cần phải hiểu biết rõ, nhận thức tường tận, mới phát tâm Qui y. Phát nguyện Qui y là chúng ta đã đặt định hướng cho cả cuộc đời. Nếu không hiểu biết gì thì việc Qui y mất hết ý nghĩa của nó.
I.- MỞ ĐỀ
Chúng sanh đang chìm đắm trong biển khổ sanh tử, dong thuyền ra cứu vớt họ là sự ra đời của đạo Phật. Đêm tối vô minh che phủ tất cả chúng sanh, cầm đuốc sáng soi đường cho họ là trách nhiệm của đạo Phật. Đạo Phật đến với chúng sanh trong một niềm khát vọng vô biên, một sự trông chờ tột độ. Nhưng, con thuyền có giá trị cứu mạng khi nào người sắp chết chìm biết bám lấy nó. Ngọn đuốc là một cứu tinh, khi nào những kẻ lạc đường trong đêm tối khao khát muốn ra. Con thuyền và ngọn đuốc sẽ vô bổ, nếu những kẻ sắp chết chìm và người lạc trong đêm tối chấp nhận cái gì mình đang chịu. Cũng thế, đạo Phật sẽ vô ích với những chúng sanh chấp nhận sanh tử và an phận trong vô minh. Vì thế, đạo Phật có mặt trên thế giới này đã hơn hai ngàn năm trăm năm, còn biết bao nhiêu người nhìn nó với cặp mắt xa lạ. Song những kẻ đã nếm được pháp vị, thấy công đức của đạo Phật đối với mình vô vàn không sao kể hết. Thật đúng với câu “Phật hóa hữu duyên nhân”.

TT.Thích Tâm Hạnh
Tất cả chúng ta đều sẵn Phật tánh, cũng gọi ông chủ, chân tâm… Bởi vọng tình che khuất cho nên tạm thời bị ẩn, không hiển lộ. Hành giả công phu đắc lực, chợt bừng ngộ, liền đó hay ra.
Song, ngộ tánh không chỉ một lần, mà thường trải qua nhiều lần mới thấu triệt. Hành giả buổi đầu bừng ngộ, hoặc có vị công phu đắc lực nhưng chưa đạt ngộ, sẽ được năng lực tự tánh thôi thúc, khiến tự thấy rạng ngời và thanh tịnh một cách mạnh mẽ lạ thường. Có vị rơi nước mắt, có người cười mãi không thôi, hoặc có hành giả tung tăng nhảy múa… Tất cả đều do sự cảm ngộ buổi đầu, năng lực của tự tâm thôi thúc.
Chỗ tột cùng của đại đạo vốn bình thường, trở lại chỗ như cũ nhưng không một vết mê. Thiền sư Huệ Hồng dẫn lời Thiền sư Triệu Châu: “Hết thảy chỉ như cũ. Các bậc Thánh từ trước không có ai chẳng từ trong chỗ như cũ mà được.”[1] Quý ngài thấu triệt, đồng về trong ấy. Khi hỏi gia phong, Sơ Tổ Trúc Lâm nói: “Áo rách che mây sáng ăn cháo, bình xưa tưới nguyệt tối uống trà”, chính là điền địa này. Bất kỳ một dấu vết nào còn sót lại, đều chưa đạt đến rốt ráo.
Nếu theo năng lực cảm ngộ buổi đầu thôi thúc, hành giả thường làm những việc khác thường, chư vị Tổ đức thường quở là “Cuồng thiền”. Ở giai đoạn này, cũng có nhiều biểu hiện mạnh yếu khác nhau. Có vị không muốn đọc sách, không cần tọa thiền, nhưng vẫn sáng tỏ, rạng ngời. Nhiều vị không còn muốn ngữ nghĩa, chỉ thích tọa thiền, cảm thấy tâm lực mạnh mẽ và hoan hỷ lạ thường… Tất cả đều cho thấy sự tiến bộ đáng khích lệ trong công phu. Tuy nhiên, nếu không phấn phát cầu tiến, không gặp thiện tri thức khai phá, hoặc không biết cách tiến thêm, thời gian sau vẫn thường bị bệnh trong công phu, sanh các chướng ngại và lui sụt.
Hoặc là cho mình đã chứng, sanh ngã mạn, khinh thường tất cả rồi phải chịu các báo chướng. Có người đạt được chút lý giải về diệu lý mà ngỡ mình đã chứng ngộ. Sẽ đến lúc tâm bị loạn động trở lại quá sức tự chủ mới nhận biết. Lúc này đã rơi vào bệnh thiền, phải mất nhiều thời gian và công sức để điều trị rất vất vả. Có vị thích ngồi thiền và chỉ ngồi mới an, xả ra thấy trong người yếu, bất ổn… Và còn nhiều biến tướng khác. Đây là do chấp vào năng lực cảm ngộ mạnh mẽ của buổi đầu rồi cho là đã chứng đắc, không cầu tiến thêm, cho nên dẫn đến bị bệnh trong công phu. Do vậy, chư vị Tổ đức thường khuyên hành giả phải vượt khỏi sự thôi thúc mạnh mẽ của tâm để tiến thêm, không nên được ít cho đã đủ.
Việc tu tập ngộ tâm không ai giống ai. Nhưng tựu trung nằm trong hai khả năng. Hoặc ngay đây nhận thẳng tự tánh. Hoặc tu tập gạn đục khơi trong. Hành giả một nhảy thẳng vào đất thật Như Lai thì không có bất kỳ nghi ngờ và chướng ngại nào trong ấy. Ngược lại, con đường khởi đầu bằng cách hàng phục vọng tâm, tức đã chưa khéo nhận thẳng tự tánh thì thường trải qua các giai đoạn thuần tịnh, sẽ đến lúc năng lực của tâm thôi thúc quá mạnh như vừa nêu trên. Công phu đến đây được coi đã có bước tiến đáng kể. Nhưng không nên bám chấp vào cảnh giới ấy mà phải phát tâm cầu tiến thì mới đạt đến rốt ráo viên mãn.
[1] Trung Quốc Thiền Tông Đại Toàn, bản chữ Hán, trang 521.
BEYOND THE POWER OF INITIAL INSPIRATION
Venerable Thích Tâm Hạnh
All of us inherently are Buddha-nature — also referred to as the “host” or the “true mind.” Yet due to thoughts and delusive emotions obscuring it, this nature remains temporarily hidden and does not manifest. When a practitioner engages in diligent and effective practice, there may come a moment of sudden awakening — and right then, one comes to see.
However, the realisation of one’s true nature does not occur just once — it often unfolds through many moments before it is seen through completely.
In the beginning, a practitioner may experience a sudden awakening, or even without yet attaining realisation, one whose practice is deeply rooted may still feel an extraordinary inner shift — a powerful, radiant clarity and purity arising from the very nature itself. Some may be moved to tears, others may burst into spontaneous laughter, and some may even dance with uncontainable joy. All of these are natural responses to the initial moment of deep resonance — when the power of the true mind begins to shine from within.
The ultimate of Way is simply the ordinary — a return to what has always been, yet without a single trace of delusion.
Zen Master Huệ Hồng quoted Master Zhaozhou (Triệu Châu) as saying:
“Everything is just as it has always been. None of the sages of the past attained without coming forth from this very old place.”[1]
The great masters, having fully realised, all return to this.
When asked about the family tradition, the Founding Patriarch Trúc Lâm replied:
Tattered robe covering clouds — porridge is taken in the morning;
Old pot watering the moon — tea is drunk at dusk.
(Áo rách che mây sáng ăn cháo,
bình xưa tưới nguyệt tối uống trà)
This is precisely that ground. Any trace that still remains — even the slightest — means one has not yet reached the ultimate.
If, stirred by the force of the initial awakening, the practitioner engages in unusual behaviours, the Patriarchs often reproved this as “wild Zen” (cuồng thiền).
At this stage, various signs and expressions may appear, differing in intensity.
Some may no longer wish to read scriptures or engage in formal meditation, yet remain in radiant clarity. Others may lose all interest in words and meanings, desiring only to sit in meditation, sensing a strange vigour of mind and an uncommon joy. All of these are marks of progress in practice, worthy of encouragement. Yet, if one does not aspire to advance further, does not encounter a wise spiritual guide (thiện tri thức) to open the path, or does not know how to move beyond, then in time obstacles may arise. Such practitioners may encounter difficulties in their training — giving rise to hindrances and eventual decline.
Some may mistakenly believe they have attained realisation, giving rise to pride and arrogance, looking down on others — and as a result, must eventually face karmic obstacles and consequences. There are those who, having grasped a little of the profound teachings, assume they have already awakened. But a time will come when the mind becomes disordered and restless again, beyond their control, and only then do they realise their mistake. By that point, they may have already fallen into the “illness of Zen,” and it will take a great deal of time and energy to recover — a difficult and exhausting process. Some may find that they feel at peace only while sitting in meditation, but once they rise from it, they feel physically weak or internally unstable.There are many other such variations. This arises from attachment to the powerful sense of insight experienced early on — mistaking it for true attainment and no longer striving to go further — which leads to imbalance and dysfunction in one’s practice. For this reason, the Zen Patriarchs often cautioned practitioners: One must go beyond the mind’s initial surges of intensity and continue progressing. Do not mistake a little gain as having reached the end.
The path of realising the mind is not the same for everyone. Yet, in essence, it follows one of two directions: Either one directly realises the true nature here and now, or one proceeds through gradual cultivation — clearing the muddy waters so the clarity may emerge.
A practitioner who leaps straight into the true ground of the Tathāgata encounters no doubt or obstruction within. Conversely, those who begin by subduing the deluded mind — meaning they have not yet subtly realised the true nature directly — often go through progressive stages of purification. Eventually, the inner force of the mind may surge strongly, as described earlier. Reaching this point marks a significant step forward in one’s practice. However, one must not cling to that state but must maintain the aspiration for continuous practice — only then can one attain perfect and thorough fulfilment.

TT.Thích Tâm Hạnh
1. ĐẠO PHẬT LÀ GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT
Nói đến đạo Phật là nói đến giác ngộ giải thoát. Mục đích và tâm nguyện của người tu Phật là muốn đạt đến giác ngộ, giải thoát, dứt khổ, an vui, cứu giúp người khác cùng đạt được như vậy. Nhắc đến giác ngộ, nhiều người thường nghĩ ngay đến việc mình đã giác ngộ cuộc đời vô thường, mạng sống mong manh, của cải phù du, tất cả đều tạm bợ. Tuy vậy, chúng ta vẫn còn bị buồn khổ chi phối. Giác ngộ nhưng vẫn chưa thoát khỏi tuyệt đối như thế thì chưa đúng giá trị của Phật đạo, chưa đúng như nguyện của hành giả tu hành.

TT.Thích Tâm Hạnh
1. KHÁI QUÁT CHUNG
Tự ngã được đề cập ở đây là bản ngã, được nhận biết qua hai dấu hiệu: Chấp thân tâm sanh diệt làm mình và trong tâm thầm thầm thấy có một cái được gọi là ta. Hành giả công phu sẽ phát hiện nó biến tướng qua nhiều dạng, nhưng tựu trung trong các phạm trù chính: Cái ta thông thường ngoài đời khi chưa tu tập, cái ta tu hành trong đạo (tu hành nhưng không khéo dụng công) và cái ta trong công phu, hoặc sở đắc.

TT.Thích Tâm Hạnh
NGAY THẤY NGHE BIẾT – TỰ TẠI GIẢI THOÁT
Kinh Lăng Nghiêm, mười phương đức Phật đồng thanh dạy: “Lành thay! A Nan, ông muốn biết câu sanh vô minh là cái đầu gút khiến ông luân chuyển sinh tử thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác. Ông muốn biết tánh vô thượng Bồ Đề khiến ông mau chứng an lạc giải thoát tịch tịnh diệu thường, cũng là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác”. Tức là sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) dính mắc sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là cội gốc sanh tử; sáu căn không dính mắc sáu trần thì ngay đó là Bồ đề, Niết-bàn.
TT.Thích Tâm Hạnh
1. DẪN NHẬP
Tất cả chúng sanh ai cũng có những niệm tưởng trong đầu, gọi là vọng tưởng. Đang có và lúc nào cũng đang đối diện với nhiều vọng tưởng, nếu không nhận biết để hàng phục sẽ bị vọng tưởng chi phối, khiến căng thẳng, trí tuệ mờ tối, đồng thời tạo nghiệp phải vào sanh tử chịu các khổ đau. Dù là hành giả có công phu, nhưng không khéo dụng công thì tuy là tu hành, nhưng vẫn chưa thể rời vọng để tu, khiến nhọc nhằn, kết quả không được như nguyện.

TT.Thích Tâm Hạnh
1.DẪN NHẬP
Là giả mà tưởng thật, chấp vọng làm chân, cho nên phải chịu các khổ não, đức Phật nói ‘nhận giặc làm con’. Biết rõ vọng chân, không nhầm lẫn, là đã có trí tuệ. Bỏ vọng về chân, là người tu đạo. Ngay khi vừa khởi, chuyển vọng niệm hướng bản tánh, liền thành vô tâm; là hành giả khéo dụng tâm. Tức vọng tức chân; chính là bậc có công phu đắc lực. Cho thấy, việc tu hành chủ yếu ‘Lìa vọng, trở lại tánh chân’. Nhận lại tánh chân, liền đó vọng tự dứt, cũng là một cách. Không theo vọng niệm, quay lại tánh chân; là một cách khác. Hành giả chưa thể một nhảy thẳng vào đất Như Lai thì cần phải biện rõ vọng chân để hạ thủ.

TT.Thích Tâm Hạnh
THAY LỜI TỰA
Tất cả chúng sanh vốn sẵn tự tánh thanh tịnh, sáng ngời. Thế rồi một thuở thoạt quên, mê mờ tánh chân, rơi vào các vọng. Nhận thân tâm sanh diệt làm mình, chấp các pháp bên ngoài thật có, thức mê càng sâu, vọng động tạo tác, chịu các thống khổ.
