Thứ Tư 24/7/2024 -- 19/6/2024 (Âm lịch) -- 2568 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Dụng Công Tu Thiền - Phần 03: Chương 02 : Căn bản Dụng Công Tu Tập Thiền(02)

TT.Thích Tâm Hạnh

CHƯƠNG 2: 

CĂN BẢN DỤNG CÔNG TU TẬP THIỀN (tiếp theo)

 

5.  CÁC LƯU Ý KHÁC:

5.1. Sự tiến bộ.

Có tu tập, dụng công đúng pháp, miên mật thì chắc chắn sẽ có sự tiến bộ. Muốn công phu tu tập thiền được đắc lực thì yếu tố cần quan tâm là sự liên tục, không để gián đoạn. Không phải siêng thì ngồi thiền, hôm nào lười biếng thì nghỉ ngơi. Dụng công theo kiểu một ngày nắng mười ngày mưa như thế thì khó có thể tiến bộ được.

 

Trong quá trình còn vọng động, còn đau chân, mỏi mệt, buồn ngủ... nhưng cứ dụng công liên tục, không bỏ thời khóa. Khoảng sáu tháng sau kiểm tra lại, sẽ nhận ra chúng ta có tiến bộ, tất cả đều tốt hơn ngày xưa chưa tu. Bình tĩnh hơn, bớt bồng bột, lo ra, lăng xăng, sân giận, dễ tha thứ và cho ra... Sự tiến bộ của thiền là không có gì, nhưng kiểm tra lại thì cảm nhận thấy rõ có tiến bộ tích cực hơn khi chưa thực tập thiền. Đó là sự tiến bộ đúng, không bị sai lệch. Không phải có hào quang, sở đắc hay các tướng trạng kỳ lạ. Chỉ là không tướng mà vẫn cảm nhận rõ sự tiến bộ tích cực từ trong tâm mình.

5.2. Không phải trải qua hết các bước vừa nêu trên thì được ngộ đạo. Cũng không phải đợi trải qua hết các bước từ thấp đến cao mới được ngộ.

Không phải trải qua hết các bước vừa nêu trên thì được ngộ đạo.

Tâm vốn không tướng cho nên không do làm gì mà được ngộ. Thiền vốn vô sanh, không phải sanh diệt tạo tác cho nên không do pháp nào để làm nên cả. Khi ngộ rồi mới hay ra, tâm chân này không dính dáng đến công phu tu tập. Cũng đúng thôi. Bởi ngộ tâm là kết quả, và tu là con đường, là phương pháp thực hành. Cho nên, khi còn mê thì phải dụng công đúng pháp, trải qua bốn bước như vừa nêu trên để công phu thuần thục, không bị trở ngại việc tiến đạo. Khi công phu đắc lực thì bản tâm bất chợt bừng sáng, chứ không phải cố định trải qua hết các bước vừa nêu trên thì được ngộ đạo.

Cũng không phải đợi trải qua hết các bước từ thấp đến cao mới được ngộ.

Tu thì không dính dáng đến bản tâm chân thật. Không tu thì ở mãi trong vô minh, mê lầm, loạn động, tạo nghiệp, khổ đau. Do đó, khi chưa thuần, chưa ngộ thì phải thực hành tuần tự theo các bước cơ bản ít nhất như vừa nêu trên để hỗ trợ công phu, để thuận duyên, không bị trở ngại. Cho đến khi thời tiết nhân duyên chín muồi thì tâm này thình lình bừng ngộ bất cứ lúc nào, chứ không phải đợi đi từ thấp tới cao mới được ngộ.

Tóm lại.

Khi còn mê thì phải thực hành một cách căn bản như thế để công phu không bị trở ngại. Đến khi công phu đắc lực, nhân duyên chín muồi thì tâm này thình lình tự bừng ngộ bất ngờ. Không phải lập trình cố định theo kiểu như tốt nghiệp một khóa học, là khi tu tập trải qua hết bốn bước vừa nêu trên thì được ngộ đạo. Cũng không hẳn phải đợi trải qua hết bốn công đoạn ấy mới ngộ. Khi công phu chín muồi thì có thể bừng ngộ bất cứ lúc nào. Nếu chưa thuần thục, chưa ngộ thì tiếp tục miên mật hạ thủ công phu tu tập, rồi sẽ có lúc bừng ngộ.

5.3.Không phải do tu tập một pháp nào mà được ngộ.

Thiền tông chủ trương bất lập văn tự, nhưng Thiền Tạng thì nhiều hơn các tông phái giáo môn khác. Tổ Đạt Ma tuyên bố giáo ngoại biệt truyền mà lấy Kinh Lăng-già trao lại để làm niềm tin cho người sau. Thiền sư Đức Sơn nói: “Tông ta không ngữ cú, không một pháp cho người” nhưng lại thượng đường nói ra muôn lời ngàn lời khai thị đại chúng. Cho thấy, thiền vốn không pháp mà hay có khả năng hiện bày nhiều phương pháp để khai thị hành giả. Nhưng chỉ cốt đưa người học trở về nhận lại bản tánh chứ không quan trọng hay dính tới lộ trình. Do đó, tuy có pháp, nhưng là vô pháp, không chấp vào một phương pháp cố định. Vì thế, khi hạ thủ công phu tu tập, hành giả không nên chấp vào phương tiện và cho rằng, do tu tập một pháp nào đó mà được ngộ đạo. Bởi chấp vào phương tiện thì rõ ràng đã rơi vào tướng, trái với tông chỉ thiền. Dù tu hành có tiến bộ cũng không thể đạt đến rốt ráo, vẫn còn lầm đường lạc lối.

Ngài Bảo Tích (720-814) là môn đệ và là người nối pháp Thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất. Tương truyền rằng, sư kiến tánh ở giữa chợ, trong lúc theo dõi câu chuyện giữa ông bán thịt và một người khách. Người khách yêu cầu: “Cắt cho tôi một miếng thịt ngon”. Ông bán thịt để dao xuống, khoanh tay nói: “Miếng nào lại không ngon!”. Sư nghe được, có chút tỉnh.

Về sau, nhân lúc chứng kiến cảnh xung quanh một đám ma, nghe người hát câu:

Vầng hồng quyết định về Tây lặn,

Chưa biết hồn linh đến chốn nào?

Dưới tấm màn hiếu tử khóc hu hu! Tâm sư bừng sáng. Về thuật lại Mã Tổ, Mã Tổ liền ấn khả.

Như vậy, ngài Bàn Sơn do xem bán thịt, do nghe thấy đám ma hay do đâu mà ngộ đạo? Không do đâu cả. Chỉ là do công phu tu tập đúng pháp. Thời tiết nhân duyên chín muồi, bất thần một cơ một cảnh nào đó chạm đến thì tâm bừng sáng. Và thấy người bán thịt hay hát đám ma cũng chỉ là cơ cảnh trong vô tình như thế chứ không phải do tu các pháp ấy mà được ngộ đạo.

Ngài Bàn Sơn tình cờ xem người mua bán thịt, nghe thấy đám ma, tâm ngài bừng sáng, ngộ đạo. Nhưng không phải do tu tập các pháp ấy mà được ngộ. Tương tự, nếu trong quá trình hành giả đang sổ tức mà ngộ đạo thì không nên nghĩ là do tu pháp ấy mà được ngộ. Chỉ là do dụng công đúng pháp, công phu đắc lực, chín muồi thì bừng ngộ. Các bước tu tập khác cũng tương tự.

5.4.Không nên vượt bậc.

Tu muôn kiếp, ngộ nhất thời. Việc tu không dính dáng đến chuyện ngộ đạo. Nhưng không tu thì bị mê muội, phàm phu. Do đó, khi chưa ngộ thì bất đắc dĩ phải tu tập mới đủ cơ duyên chín muồi tỏ ngộ. Biết rõ như vậy, sẽ thấy ra, pháp không có thật pháp, chỉ là tùy bệnh cho thuốc. Chính vì vậy cho nên không có pháp nào cao, cũng không có pháp nào cố định là thấp cả. Chỉ khéo léo ứng dụng đúng vào từng thời điểm, hoàn cảnh thích hợp; đúng với tinh thần Thiền Thượng Thừa là hướng đến tỏ ngộ tự tánh, không kẹt tướng hay chấp dụng công thì công phu sẽ tốt. Không nên chê pháp này thấp, thích pháp kia cao rồi vượt bậc (bỏ băng). Nếu vượt bậc, sau này bị các chướng ngại thì cũng phải quay lại từ đầu để điều phục, chữa trị. Nhưng lúc này là đã bị bệnh rồi. Trở lại dụng công lại từ đầu là để điều trị bệnh, cho nên sẽ khó khăn hơn rất nhiều so với ngay từ đầu hành giả thực hành công phu tu tập cho đúng pháp.

5.5.Không trụ vào sự an định rồi chấp làm sở đắc.

Khi sổ tức, rất dễ đạt được định mất thân, bặt niệm tưởng, mất hẳn hơi thở nhưng suốt thông hơn bình thường. Rất nhẹ nhàng, an lạc. Thích tọa thiền. Có thể ngồi thiền hằng giờ, có khi trải qua nhiều ngày liền, tâm càng trở nên an định sâu hơn. Tuy nhiên, đây chỉ là sự an định mất thân của buổi đầu, đại pháp chưa sáng. Thiền sư Pháp Thành ở Hương Sơn nói: “Dù cho thuần thanh tuyệt điểm vẫn còn là chơn thường lưu chú”. Nghĩa là dù cho thanh tịnh sâu xa đến mức nào đi nữa, vẫn chưa thoát khỏi sự trôi chảy nhỏ nhiệm trong tánh chơn thường kia. Chỉ người nào vượt qua rồi mới nhận ra. Người còn tham đắm trong ấy không thể thấy được. Vì thế, hành giả không nên chấp vào đó lấy làm sở đắc, phải khéo léo điều hòa thì mới có những bước tiến tốt và đặc biệt hơn. Nếu chấp chặt vào đó rồi cho là có sở đắc, thời gian sau sẽ bị bệnh, không thể tiếp tục công phu được nữa. Hoặc có đạt được định sâu hơn cũng chưa khỏi rơi vào tà kiến (kiến giải sai lệch). Nếu trình được với vị Thầy sáng đạo và có kinh nghiệm để được chỉ dạy thì công phu sẽ tốt và tiếp tục tiến bộ đến rốt ráo.

5.6. Khi chưa tỏ ngộ, còn mê thì vọng tưởng hãy còn.

Như người ngủ mê thì mơ thấy các cảnh trong mộng. Nhưng khi thức dậy thì các cảnh ấy không còn. Cũng thế, khi chưa tỏ ngộ tự tâm thì vọng tưởng vẫn còn, là chuyện bình thường. Chỉ khi ngộ tâm thì vọng tưởng tự sạch.

Bởi vọng tưởng vốn không, chỉ do quên tâm cho nên nó tạm có. Nó là thứ chập chờn chợt sanh chợt diệt như thế thì không thể căn cứ vào đâu để trừ dẹp được. Hơn nữa, nó thuộc về huyễn tướng sanh diệt. Nhưng khởi tâm diệt nó thì tâm đó cũng thuộc sanh diệt. Cái sanh diệt không thể chiến thắng được sanh diệt, mà phải là cái vô sanh mới thiêu cháy được các vọng tưởng sanh diệt kia. Cho nên, khi còn mê thì không thể dùng cách gì trong sanh diệt mà có thể trừ dẹp hết vọng tưởng được. Hành giả chỉ việc một mực tinh tấn dụng công đúng pháp, không quan tâm đến vọng tưởng. Công phu đúng mức, thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm tự bừng sáng, các vọng tự dứt bặt, vắng lặng, sáng rỡ, rạng ngời; chứ không cần làm thêm gì cả.

5.7. Không theo tướng lạ bên ngoài.

Ngoài tâm tìm Phật là ngoại đạo, không phải là Phật đạo. Tu thiền là cốt yếu nhận lại tự tâm nơi chính mình, không từ bên ngoài mà được. Phật Tổ chỉ dạy, từ ngoài vào không phải là của báu trong nhà. Hơn nữa, ma cũng có thể hiện được hình tướng đức Phật. Điển hình như câu chuyện thiên ma ba-tuần hiện tướng đức Phật Thích Ca Mâu Ni và 1250 Thánh Tỳ-kheo từ trong rừng đi ra cho Tổ Ưu Ba Cúc Đa chiêm ngưỡng. Nếu hành giả không biết thì rất dễ bị lầm, rơi vào đường ma. Cho nên khi dụng công tu tập, hành giả không theo bất kỳ tướng lạ nào bên ngoài, dù tốt hay xấu. Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy:

Nhược tác Thánh giải,

Tức thọ quần tà.

Bất khởi Thánh tâm,

Tức thiện cảnh giới.

Đối với tất cả các cảnh hiện ra trong công phu, nếu hành giả khởi tâm cho là chứng thánh thì bị sai lệch, rơi vào đường tà. Ngược lại, biết tâm vô tướng ngay chính mình mới là Phật thật, không khởi tâm cho những hiện tướng lạ bên ngoài là đã chứng đắc hay được gì thì tất cả đều là sự tiến bộ của công phu. Dù có thấy gì hay được gì cũng đừng chấp vào, nên cầu tiến, nỗ lực công phu để tiến thêm thì không bị sai lầm hay chướng ngại gì cả.

 

6.THẲNG MỘT ĐƯỜNG TU.

Hàng phục vọng tâm, hướng bản tánh. Ngay đây nhận thẳng tự tánh giác sáng, sống thẳng đó là tu hành. Công phu đắc lực, chín muồi, sẽ bất chợt bừng ngộ, bản tâm hiển hiện tròn đủ, diệu dụng không thể nghĩ nghì, dùng nói năng hiểu biết không thể đến được; tiêu sái, tự tại, vô ngại, giải thoát.

Tổng Luận Kinh Lăng Nghiêm Trực Chỉ, Thiền sư Hàm Thị nói: “Bởi do ở lâu trong mê nên tâm đã thành tưởng. Lấy tưởng duyên tâm, tâm đồng thì tưởng hết. Rời tưởng gạn cái thấy, cái thấy bày thì tưởng không còn. Nên ngoài phân biệt vẫn lưu lại căn tánh để chờ đợi phát minh”.

Bởi do ở lâu trong mê nên tâm đã thành tưởng.

Tất cả chúng sanh vốn ở trong thể tánh thanh tịnh sẵn vậy. Thế rồi bất chợt thoạt quên, liền bị mê mờ và sanh các tướng vọng tưởng. Do mê sanh vọng, vọng làm rối rắm khiến càng mê thêm. Mê sâu thì vọng càng nhiều. Vọng càng nhiều thì mê càng thêm sâu. Lâu ngày như thế, sự mê mờ và vọng tưởng đua nhau lớn mạnh, chất chồng, không còn biết bản tâm là gì nữa. Cho nên nói: “Bởi do ở lâu trong mê nên tâm đã thành tưởng”.

Tưởng từ tâm biến hóa, do đó tâm và tưởng vốn đồng một thể tánh. Do đồng một thể tánh, cho nên muốn điều trị thì ngay tưởng hướng tâm. Tâm trở về nguồn cội chính nó, trở lại một thể tánh như nhau thì tưởng tự dứt bặt. Đây là chỗ Thiền sư Hàm Thị nói: Lấy tưởng duyên tâm, tâm đồng thì tưởng hết”.

Lấy tưởng duyên tâm, tâm đồng thì tưởng hết.

Tưởng là sự biến hiện của tâm. Hàng phục vọng tưởng bằng cách hướng đến sống bằng tự tâm giác sáng. Tột cùng được tâm này thì vọng tưởng không còn. Thiền sư Đại Giác nói: “Khi cái vọng này vừa sanh khởi, lập tức chuyển vọng niệm hướng bổn tánh, liền thành vô tâm. Dụng tâm như thế là đại dụng của sự tu hành”.

Cụ thể, việc tu hành lúc này là lần đường trở lại bản tâm. Nếu bậc có căn cơ lanh lợi, ngay đây nhận thẳng bản tâm thì đó là đại phúc. Ngoài ra, tất cả chúng sanh do tâm đã thành tưởng (như vừa phân tích ở đoạn trên), bị tưởng che lấp cho nên không biết đâu mà nhận. Đối với cái mê thì chỉ là cái lờ mờ không rõ ràng thôi, không có tướng hình cụ thể cho chúng ta nhận diện, vì thế cũng không thể thấy nó ở đâu để trừ dẹp, hạ thủ. Còn lại là vọng tưởng, có tướng của tâm cho nên ngay vọng tưởng để hàng phục, hướng tâm, là tu hành. Cụ thể khi tọa thiền, thấy vọng tưởng khởi lên thì đừng theo. Chỉ buông thư, nhẹ nhàng, không mê là đang giác sáng. Đây là: “Lấy tưởng duyên tâm”. Tức là ngay vọng tưởng mà hướng tiến tìm tâm. Đây là theo dấu để tìm trâu. Cụ thể, ngay vọng tưởng, không theo nó mà hướng đến tâm thanh tịnh giác sáng thôi. Khi sức giác sáng mạnh thì vọng tưởng càng yếu đi. Cho đến khi sức giác này đủ lớn, thời tiết nhân duyên chín muồi, bất chợt bừng ngộ tự tâm, trả lại nguyên thể ban đầu, đầy đủ tất cả tính chất và lực dụng của nó. Lúc này, tất cả toàn là tâm, vọng tưởng không còn. Đây là: Tâm đồng thì tưởng hết.

Rời tưởng gạn cái thấy, cái thấy bày thì tưởng không còn.

Không bàn vọng tưởng, chỉ khéo lựa ra cái thấy biết. Nếu ngộ ra, tánh thấy biết hiện bày thì vọng tưởng tự vắng bặt, dứt trừ. Cụ thể, khi mới tu, đang còn vọng tưởng, nhưng không theo vọng tưởng, đó là “rời tưởng”, để nhận tánh thấy biết đang giác sáng, là “nhận cái thấy”. Có nghĩa là đang còn vọng tưởng phàm tình, nhưng hành giả không theo nó, cũng không quan tâm đến nó. Chỉ là ngay trước mắt đây, khéo nhận lấy tánh giác sáng không tướng mà rõ biết, suốt qua tất cả. Là ngay khi còn vọng tưởng mà đã gạn lựa ra để nhận được cái thấy; là “Rời tưởng gạn cái thấy”. Nếu cái thấy giác sáng ấy đủ lớn đúng như bản chất của nó thì vọng tưởng tự bặt, không còn; đây là: “Cái thấy bày thì tưởng không còn”.

Nên ngoài phân biệt vẫn lưu lại căn tánh để chờ đợi phát minh.

Như trên, đã gạn lựa ra tự tánh giác sáng thấy biết tất cả mà không động, ở đây gọi là “căn tánh”.

Ngay cái đang đau mà vẫn còn đây cái biết đau, chứ không chỉ có cái đau thôi. Cũng vậy, khi đang còn vọng tưởng, nhưng đã gạn lựa ra được căn tánh rồi thì chúng ta hiện nay không chỉ có vọng tưởng, mà song song đó còn có cái biết vọng. Không khởi biết mà tự nó sáng biết, cái ấy không phải vọng, chính là căn tánh đã được lựa ra. Thì nên “lưu lại căn tánh” này, tức là nên sống thẳng bằng tánh giác sáng này, để “chờ đợi phát minh”, tức là sống thẳng đó thì chắc chắn sẽ có lúc bất chợt phát minh được tâm địa một cách trọn vẹn, chứ không trông mong, chờ đợi gì.

Cụ thể, không theo vọng, cũng không phải trừ dẹp vọng tưởng. Tức là không can thiệp gì trên vọng cả, đó là đã thoát ra “ngoài cái phân biệt”. Hay ra, còn đây một tánh giác sáng đã được nhận thẳng, sống ngay đó là tu hành; đây là “lưu lại căn tánh”. Khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm này bất chợt bừng ngộ, đó là “phát minh”. Thấy rõ con đường giác ngộ như thế, tự tin, yên lòng để quyết chí hạ thủ công phu, khi đắc lực thì tự bừng ngộ. Thiền sư Hàm Thị nói “lưu lại căn tánh để chờ đợi phát minh” là vậy, chứ không phải ngồi đó chờ đợi cho được ngộ. Bởi chờ đợi là tâm vọng, trái với bản thể vô sanh, do đó không thể ngộ được.

Tóm lại, ngay khi đang vọng tưởng, vẫn có tánh này sáng biết rõ ràng, không thiếu vắng. Dù đang còn vọng tưởng, nhưng bỏ ngoài vọng tưởng, không can thiệp. Chỉ khéo nhận lại tánh này. Ngay đây dám tự tin nhận thẳng tánh này, sống thẳng đó là công phu; là chỗ ngài Hàm Thị nói: “Lưu lại căn tánh”. Việc còn lại là sẽ có lúc đủ duyên, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh thể bừng sáng chứ không tạo tác thêm gì trong đó. Ngài Hàm Thị nói: “Chờ đợi phát minh” là như vậy.

7.KẾT LUẬN.

Thiền vốn là bản tâm sẵn vậy nơi mỗi người. Ngộ tâm là ngộ thiền. Người ta có thể rũ bỏ tất cả mọi thứ, nhưng không ai tài nào bỏ được tâm thiền này. Bởi nó là mình, mình đang sống trên nó. Hễ vừa nhúc nhích động tĩnh gì cũng đều chính là tâm thiền cả thì bỏ vào đâu cho được. Biết vậy, không cần mong cầu, chỉ là nhất mực tinh cần dụng công đúng pháp, hướng thẳng tự tâm. Công phu chín muồi, tâm này tự tỏ rạng. Mới hay ra, đất trời đã thênh thang lâu rồi, đâu có gì che đậy được.

Phần phụ: CÂU HỎI VẬN DỤNG

Câu số 1:

Ngay khi đang có vọng tưởng, có tánh này không? Làm sao nhận biết?

GỢI Ý TRẢ LỜI:

DẪN CHỨNG: Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy:

“Thể Bồ-đề Niết-bàn thanh tịnh từ vô thủy; tức là cái thức tinh nguyên minh nó hay sanh ra các duyên mà bị các duyên bỏ sót. Do chúng sanh bỏ sót cái bản minh này (sáng suốt sẵn có), cho nên phải chịu trôi vào các thú”.

Cho thấy, ngay khi đang có vọng tưởng, tánh này vẫn không thiếu, chỉ là chúng sanh sống trên nó mà bỏ sót.

Làm sao nhận biết?

Nếu không có tánh này thì ai nhận biết đang có vọng tưởng? Nếu cho rằng, cái biết vọng tưởng vẫn còn là vọng giác thì ai biết đó là vọng giác? Chẳng phải là tánh này đang sẵn đó hay sao. Hãy buông luôn cái được cho là vọng giác ấy đi thì tánh này liền đó hiển hiện, bặt nghi ngờ.

Câu số 2:

Ngay khi vọng tưởng, tánh này vẫn không thiếu vắng. Vậy, công phu nhận thẳng tánh này như thế nào?

GỢI Ý TRẢ LỜI:

DẪN CHỨNG: Thiền sư Hàm Thị nói:

Ngoài phân biệt vẫn lưu lại căn tánh để chờ đợi phát minh”.

- Phân biệt:Tâm phân biệt các pháp, có ra vọng tưởng.

- Căn tánh: Tự tánh giác sáng.

Cụ thể ở đây:

  • Đang khi vọng tưởng, tánh này không thiếu.
    • Dù đang còn vọng tưởng, nhưng để yên, không can thiệp (không theo vọng, không trừ dẹp vọng, không khởi tâm để mặc kệ, mặc tình).
    • Ngay đây, dám tự tin nhận thẳng tánh giác sáng = LƯU LẠI CĂN TÁNH, là chân thật tu hành.
    • Chỉ vậy thôi. Việc còn lại là sẽ có lúc đủ duyên bừng sáng = CHỜ ĐỢI PHÁT MINH, chứ không phải ngồi đó chờ đợi để được ngộ.

Nhận thẳng thế nào?

  • Không khởi cái biết, để biết về, biết theo vọng tưởng.
  • Không can thiệp hoặc làm gì thêm trên vọng tưởng hay các tướng.
  • Chỉ lặng lẽ, không mê là tự sáng biết. Nhưng không phải biết về hay biết theo gì.
  • Công phu như thế là khéo nhận thẳng, sống thẳng, khế hợp tự tánh.
  • Việc còn lại là thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bất ngờ bùng vỡ.

- Câu số 3:

Hành giả hiểu và cảm nhận chân tâm, có khi vẫn còn trong tạo tác, chưa thực sự khế hợp chân tâm. Do đâu? Hoặc vì sao?

GỢI Ý TRẢ LỜI:

Do nhận sai: Thầm nghĩ, có một chân tâm như thế nào đó, ở đâu đó để nhận ra, hay ra. Từ đó, hiểu về, thầm nhận về chân tâm đó.

- Nguyên nhân, do rơi vào bẫy của căn thức mê mờ:

Chúng sanh còn mê, thấy biết theo tình thức, phan duyên, có vật mới biết cho nên luôn tìm một vật để thấy biết. Cụ thể, phải có một vật như thế nào đó, ở đâu đó để biết về vật đó, chứ không tự nhận ra tâm thể vốn tự sáng biết. Đây là cái biết của phan duyên, còn trong sanh tử. Nếu hành giả dụng công chưa rời phan duyên như thế thì vẫn còn trong tạo tác, chưa rời sanh diệt, chưa khế hợp tự tánh.

Khéo nhận lại chân tâm:

Khéo mất hút các tướng, không một vết mê thì tâm tự sáng biết trùm khắp. Bởi lúc này muốn không biết cũng không được. Ngay đó, chân tâm hiện tiền, sáng rỡ.

Câu số 4:

Giữa trần đời xuôi ngược dọc ngang, có khi khiến mệt nhoài, chúng ta đã đối diện như thế nào để được an ổn thực sự?

GỢI Ý TRẢ LỜI:

Không cần hết mệt, cũng chẳng phải muốn còn mệt. Chẳng khởi tâm mong qua nhanh, cũng chẳng phải muốn nó còn. Ngay đó, lặng xuống, trở lại tự tánh, liền an, liền đó được nghỉ ngơi tuyệt đối.

Sơ Tổ Trúc Lâm nói: 

“Gìn tính sáng tính mới hầu an,

Nén niềm vọng, niềm dừng chẳng thác”.

Cho thấy, chỉ có tánh này mới cho chúng ta an ổn tuyệt đối.

-Câu số 5:

Thiền sư Cảnh Sầm nói “Chớ bảo vô tâm gọi là đạo”; tức là vô tâm chưa phải là đạo. Nhưng Sơ Tổ Trúc Lâm nói “Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền”; vô tâm là đạo, là thiền. Cùng là vô tâm, nhưng mang hai ý nghĩa khác nhau. Qua lời dạy của hai vị tôn đức, chúng ta thấy ra gì về vô tâm?

GỢI Ý TRẢ LỜI:

Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm nói:

Chớ bảo vô tâm gọi là đạo,

Vô tâm còn cách một lớp rào.

Như vậy, vô tâm chưa phải là đạo.

Sơ Tổ Trúc Lâm Việt Nam thì nói:

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

Ở đây, vô tâm chính là đạo. Cùng là vô tâm, nhưng có hai nghĩa khác nhau. Chúng ta thấy ra gì về lời dạy vô tâm của hai bậc tôn đức.

-Vô tâm chưa phải đạo.

Thiền sư Trường Sa Cảnh Sầm bảo vô tâm chưa phải là đạo, bởi hai lý do. Khi dụng công thì hạ thủ công phu trong tạo tác, kềm tâm buộc niệm, làm cho được vô tâm. Đã có công phu tương đối thì lập phần hạn, thấy có một cái tâm rỗng không để chấp giữ. Vô tâm này chưa khế đại đạo.

Thiền sư Phật Nhãn nói: “Không nên ở trong chỗ rỗng không, không bờ mé mà lập phần hạn. Nếu lập phần hạn, tức đó chỉ là cái rỗng không, không bờ mé, bèn bị rơi kẹt”. Lập phần hạn là làm cho được vô tâm, thầm thấy có một cái rỗng không, có một cái tâm không rồi chấp vào đó. Đây chính là chỗ vô tâm mà Thiền sư Cảnh Sầm đã nhắc, chớ bảo đó là đạo.

Cụ thể, Thiền sư Cảnh Sầm nói: “Chớ bảo vô tâm”, tức là ngài thấy đang có người cảm nhận về vô tâm, đồng nghĩa, có một cái tâm không. Từ nhân duyên thực tiễn, ngài nói như vậy để nhắc thức những người này. Đã là có thì dù có cái gì đi nữa (kể cả cái tâm không) cũng không phải bản tâm chân thật vốn không một vật sẵn vậy nơi chính mình. Cái vô tâm ấy là làm cho được vô, chứ không phải bản tâm vốn tự rỗng thênh, không một vật. Ngài gọi đây là đầu sào trăm trượng, cần phải vượt qua, vươn lên nữa. Do đó, trong một bài kệ khác, ngài nói:  

Đầu sào trăm trượng thêm bước nữa,

Mười phương thế giới hiện toàn chân.

Vô tâm là đạo.

Sơ Tổ Trúc Lâm nói:

Trong nhà có báu thôi tìm kiếm,

Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

Ngay câu trước đó, Ngài đã nhắc: “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm. Tức là cần nhận lại của báu vốn sẵn trong nhà mình, chính là bản tâm thì bản tâm ấy vốn đã tự không (Rỗng rang), chứ không phải do cảm nhận được hay do tu để làm cho được không. Cho nên, đến câu liền sau đó ngài nói: “Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền.

Ngộ tánh thì tâm tánh tự rỗng không, chứ không phải làm cho được không.

Thấy biết vượt thoát căn và cảnh, suốt qua tất cả, không trụ vào bất cứ gì hay ở đâu. Trong tâm vốn tự không dấy niệm. Trong ngoài suốt thông, vắng bặt, nhất như, không còn thấy có trong ngoài. Vô tâm như thế không nằm trong có và không, tự vượt thoát tất cả. Đây là vô tâm đúng nghĩa trong đạo Phật nói chung và nhà Thiền nói riêng; vô tâm chính là đạo.

Câu số 6:

Vô tâm đúng nghĩa có liên quan thế nào đến việc trợ giúp xã hội?

GỢI Ý TRẢ LỜI:

1) VÔ TÂM ĐÚNG NGHĨA.

a) Không phải vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ.

Đạo Phật là đạo Trí tuệ - Từ bi. Tức là từ trí tuệ giác ngộ, cảm thương cho cái mê của chúng sanh, rộng lòng cứu giúp. Thực tế, khi năng lượng dồi dào, lòng người tự rộng mở, sẽ dễ dàng cảm thông với mọi người và sẵn sàng giúp đỡ tất cả trong khả năng cho phép. Một hành giả đã ngộ tâm (trí tuệ giác ngộ) thì nội lực tràn đầy cho nên tự mình có sự thông cảm và từ bi rộng lớn. Với người mới học đạo, sẽ được Phật Tổ chỉ dạy trong Kinh Luận, được thiện hữu tri thức hướng dẫn trực tiếp để hiểu về người khác, cảm thông, để từ đó có sự quan tâm đúng mực, có lòng từ bi rộng lớn. Do đó, người tu Phật đúng nghĩa, sẽ không vô tâm theo kiểu vô cảm, lãnh đạm, thờ ơ.

b)  Không phải cột tâm, quay lưng, ngoảnh mặt.

Nếu kềm tâm, làm cho được vô tâm rồi chấp vào chỗ trống không, không ngằn mé đó, Thiền sư Cảnh Sầm nói chưa phải là đạo. Vì vậy, hành giả tu Phật đúng pháp, sẽ không rơi vào chỗ vô tâm cây khô tro lạnh này.

c) Ngộ tâm, tâm tự rỗng rang.

Như trên vừa nêu, Sơ Tổ Trúc Lâm dạy, nhận lại bản tâm thì tâm ấy tự rỗng rang, thênh thang, trùm khắp (tâm tự không). Hành giả ngộ tâm này, niềm lạc an ngập tràn. Có trí tuệ thấu hiểu và cảm thông với người khác. Có tâm từ bi và lòng nhiệt huyết tích cực cứu giúp hết thảy. Do đó, sẽ hết lòng trong việc trợ giúp xã hội, nhưng vẫn thanh thoát, cao nhàn, thuận đạo, hiệu quả. Đây là vô tâm đúng nghĩa trong đạo Phật nói chung và nhà Thiền nói riêng.

2) VÔ TÂM ĐÚNG NGHĨA VỚI VIỆC TRỢ GIÚP XÃ HỘI.

a)  Nếu là có tâm phân biệt.

Nếu có tâm phân biệt thì chưa thể rời bản ngã. Có ngã, trợ giúp xã hội qua bản ngã sẽ còn bị ngăn ngại. Thuận ý thì làm. Trái với bản ngã, không vui hoặc bực tức, sẽ thối tâm, không muốn giúp đỡ nữa.

Hơn nữa, có tâm phân biệt, sẽ thấy có mình làm được gì đó, có sở đắc, sẽ có lúc cảm thấy thỏa mãn nên ngừng nghỉ. Điển hình, thấy mình làm từ thiện nhiều rồi, tạm hài lòng với bản thân nên dừng bớt lại, hoặc không làm nữa. Cho thấy, có tâm phân biệt, sẽ thấy có sở đắc. Mà có sở đắc thì sẽ còn nằm trong giới hạn nhất định.

Mặt khác, nếu làm trong phân tâm động niệm sẽ mất năng lượng. Do năng lượng có giới hạn cho nên sự tích cực cũng có giới hạn.

Và cuối cùng, nếu còn phân tâm động niệm thì chưa có lực để làm chủ tuyệt đối bản thân. Hòa vào đời (nhập thế), nhưng bị chi phối, tan chảy. Do đó, việc làm tuy thấy tốt, nhưng theo thời gian, khó tránh khỏi những tình tệ kéo theo.

Từ những lý do thực tiễn trên cho thấy, nếu trợ giúp xã hội trong khi còn có tâm, sẽ phải có giới hạn nhất định.

b) Vô tâm đúng nghĩa.

Nếu một người đã đạt đến vô tâm đúng nghĩa, sẽ vô ngã. Vì không còn quan trọng bản thân do đó mọi hành xử và việc làm không thông qua bản ngã cá nhân, sẽ cho ra thực sự, không ngăn ngại. Quý ngài chỉ biết cho ra. Còn lại, mọi người đối xử như thế nào cũng được.

Hành giả vô tâm đúng nghĩa, sẽ vô sở đắc. Vì không thấy mình đã làm được gì, chỉ biết khi nào mọi người còn cần thì mình làm thôi, cho nên không tự mãn. Do vậy, tích cực trong công việc, vô hạn, không thấy thỏa lòng rồi ngừng nghỉ.

Làm việc trong tâm rỗng rang, không động, năng lượng sẽ tràn đầy. Do vậy, quý ngài sẵn sàng tích cực cho ra một cách vô biên.

Quý ngài hòa vào đời làm lợi ích chúng sanh, nhưng vô nhiễm, không tan biến. Do vậy, công việc chắc chắn tốt, không phát sanh tình tệ.

Cho thấy, hành giả đạt đến vô tâm đúng nghĩa, vào đời trợ giúp xã hội, làm lợi ích chúng sanh, sẽ đạt đến vô hạn, vô biên, thuận đạo và hiệu quả.

Câu số 7:

Hành giả lợi căn, thoạt nghe liền ngộ. Vậy là bỗng nhiên tự ngộ, hay do trải qua thời gian huân tu thuần thục rồi mới được ngộ?

GỢI Ý TRẢ LỜI:

1) TU VÀ NGỘ.

Nếu không tu, tự nhiên được ngộ, đó là thiên nhiên ngoại đạo, bởi thực tế không có việc ấy. Nếu bảo do huân tu mới ngộ thì rơi vào tạo tác sanh diệt, không thể ngộ bản tánh vô sanh. Mặt khác, có nhiều vị ra đời không gặp Phật, nhìn lá rơi tự ngộ gọi là Độc Giác Phật; như vậy, chưa thấy quý ngài tu hành gì. Vậy thì, có tu mới được ngộ hay không tu vẫn ngộ?

2) CÓ HUÂN TU HAY KHÔNG?

Ví như không khí đã sẵn, nhưng không quạt thì không tạo thành gió để mát. Phật tánh vốn sẵn, nhưng không có Thầy Tổ kích phát, không tu thì không thể tự nhiên thành.

Ai cũng sẵn tánh Phật, nhưng do vô minh vọng tập che đậy nên không phát huy. Do vậy cần phải huân tu. Tuy huân tu, nhưng không phải làm gì thêm trong ấy. Chỉ là không theo vọng niệm, hằng giác sáng. Thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ, mới thấy sức sống này đã sẵn, không dính dáng gì đến việc tu. Đây là sự thật. Chưa ngộ, cần phải khéo tu. Ngộ rồi, mới thấy việc tu trước kia không dính dáng. Thiền sư Hoài Nhượng nói: “Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô chẳng thể được”, là vậy. Do đó, phải khéo tu trong vô tu để khế hợp tự tánh, mới có lúc bừng ngộ.

3) HUÂN TU NHƯ THẾ NÀO?

Phật dạy, nếu thực hành huân tu theo hạnh con heo thì thành con heo. Nếu muốn ngộ tánh mà quán chiếu thì chỉ hiển bày chân lý, không thể ngộ tánh. Ngộ tánh không phải là ngộ ra tự tánh như thế nào đó, mà khi công phu đắc lực thì tự trả lại chính nó, tánh tự bừng ngộ. Do đó, cần phải biết huân tu đúng pháp, khế tự tánh thì mới có lúc bừng ngộ tự tánh này.

4) HUÂN TU ĐÚNG PHÁP, MỚI NGỘ.

Bản chất tánh tự vô sanh, cho nên cần phải biết thực hành công phu khế hợp tự tánh, mới ngộ. Cụ thể, thẳng đây, khéo nhận tánh này, sống thẳng đó là tu hành. Nếu chưa như thế thì hướng tánh tu tập. Dù có pháp, nhưng không kẹt vào tướng phương pháp. Không tạo thành tướng dụng công. Không dấu vết của tâm, không lập phần hạn, không thấy có sở đắc. Dụng công như thế là tu trong vô tu, khế tự tánh vô sanh, mới có lúc tánh tự bừng ngộ.

Hàng Độc Giác Phật ra đời không gặp Phật, nhìn lá rơi hoặc nhân duyên nào đó tự ngộ. Đó là do nhiều đời quý ngài đã huân tu, chín muồi, nay được ngộ chứ không phải tự nhiên.

 

BIẾT CÓ CHÂN TÂM

1. THẤY NGHE BIẾT ĐỀU TỪ CHÂN TÂM.

Hòa thượng Tông chủ dạy, bằng tâm trong lặng sáng biết, hành giả nhận ra rõ ràng, mắt biết thấy là chân tâm, tai biết nghe là chân tâm… Ý biết pháp trần là chân tâm. Tóm lại, Ngài khẳng định ngay mọi thứ đang đối diện, chúng ta lặng sáng, thấy biết rạng ngời nhưng không động, mỗi mỗi thấy, nghe, biết..., chân tâm đang hiển hiện rõ ràng.

Khi đã thuần thục, cái biết chân tâm luôn hiện tiền thì chuyển qua giai đoạn “Thể nhập chân tâm”. Đến đây hành giả thể nhận rõ chân tâm “Vốn tự không động, thường biết rõ ràng mà không cần khởi niệm phân biệt. Thênh thang còn mãi, vốn tự như vậy”.

Sự thật, nhờ chân tâm cho chúng ta thấy, nghe, biết (Kiến văn giác tri). Do đó, ngay thấy, nghe, biết, chân tâm đang hiện tiền, chưa thiếu vắng bao giờ. Nhưng do không nhận ra, sống theo vọng, trên vọng mà tu nên bỏ sót chân tâm. Vì vậy Hòa thượng khẳng định và nói cho hành giả biết “Ngay thấy, nghe, biết; chân tâm đang hiện tiền sẵn đó”. Nghe dạy, hành giả đã nhận biết rồi, khéo dụng công, nhận ra và sống thẳng bằng chân tâm.

Thiền sư Sư Nhan (Ngạn) khi đến Đan Khưu, suốt ngày ngồi trên thạch bàn như kẻ ngu, thỉnh thoảng tự gọi: “Ông chủ nhân”, lại ứng thanh: “Dạ”. Bèn bảo: “Tỉnh tỉnh lấy! Về sau chớ bị người gạt”. Thời gian sau, bốn chúng ngưỡng mộ đức của Sư, thỉnh Sư trụ trì tại Đoan Nham, học lữ nghe danh đua nhau kéo đến. Hòa thượng Tông chủ hiện nay dạy thiền sinh thường nhắc “Mắt biết thấy là chân tâm…” để xác quyết, trừ mê, cho thiền sinh nhận lại tâm mình, cũng tương tự.

Khi tự nhắc để mình nhớ và nhận rõ “Ngay thấy nghe biết là chân tâm”, là để khẳng định cho hành giả nhận ra rằng, ngay khi chúng ta thấy nghe biết, chân tâm sẵn đủ đó. Khi đã tin chắc, khẳng định rồi thì hằng sống như vậy chứ không nhắc nữa.

Như vậy, theo lời Hòa thượng dạy như trên, mục đích để khẳng định, xác quyết ngay thấy nghe biết, chân tâm sẵn đó. Hành giả khéo dụng công miên mật, theo thời gian thuần thục, tiến đến nhận ra chân tâm chính mình và thể nhập, sống bằng chính nó. Tu tập nhận ra chân tâm như thế không phải là việc tự kỷ ám thị. Bởi tự kỷ ám thị là lặp đi lặp lại một việc bên ngoài nhiều lần để bị ám thị, biến thành cái của mình. Còn việc nhắc biết có chân tâm là khẳng định để xác quyết cái chân thật nơi chính mình và hướng tánh chân thật ấy để tu tập. Khi thuần thục, sáng ra tâm tánh chính mình, ông chủ chính mình hiển hiện chứ không phải nhận cái bên ngoài để ám thị làm cái của mình.

2. CHÂN TÂM VÔ NIỆM.

Tu tập cho đến khi hết vọng niệm mới ngộ chân tâm? Hay khi ngộ chân tâm thì hết vọng niệm, được vô niệm? Ví như người ngủ say, thấy các cảnh trong mộng. Mơ cho tròn hết cơn mộng mới được tỉnh dậy? Hay bất cứ lúc nào tỉnh dậy thì hết mộng? Nếu phải mơ trọn câu chuyện trong giấc mộng mới tỉnh thì đã là người tỉnh rồi, đâu còn mộng nữa? Thực tế, bất cứ lúc nào tỉnh dậy thì liền hết mộng.

Cũng thế, bất chợt ngộ tâm, vọng tự bặt. Khi ấy, vượt cả không gian và thời gian, không có trước sau. Không có thời gian hay không gian nào cho tình thức phân biệt kịp chen vào để nhận ra vọng niệm dứt bặt trước rồi mới ngộ chân tâm, hay ngộ chân tâm rồi vọng niệm mới dứt bặt. Khi chưa ngộ tâm thì có làm gì, vọng vẫn hãy còn. Ngộ rồi, vọng tự dứt bặt. Như ngủ say, nằm mộng thấy đủ thứ. Tỉnh dậy, toàn không.

Tất cả cảnh trong mộng bản chất không có thật. Nhưng nó lại có giá trị chi phối đối với người ngủ mê, đang say mộng. Cảnh trong sanh tử cũng tương tự. Thực chất, tất cả chúng đều không có giá trị gì. Nhưng do chúng ta tạm mê nên bị chi phối. Sáng lại chân tâm, tất cả đồng thời lặng trong, tiêu mất; như người thức giấc, cảnh trong mộng không còn giá trị gì.

Sự thật, chân tâm vốn vô niệm. Nhưng chúng sanh bất giác, chợt quên, sống trên nó mà bỏ sót, quên nhận lại nên niệm nương vào thức mê mà sanh khởi và tồn tại. Khéo nhận lại chân tâm thì căn thức mê dứt bặt, niệm tự vắng lặng. Hành giả thể ngộ tự tánh, liền tự hay ra: “Chân tâm vốn tự không niệm” đã lâu lắm rồi. Nếu còn đang trên đường dụng công tu tập thì cần biết có chân tâm, hướng tiến chân tâm tu tập. Hành giả khéo bặt dứt mất hút các tướng, sáng lại tánh mình, tu trong vô tu, mới chân thật tu hành. Cụ thể, có pháp nhưng không kẹt vào tướng của phương pháp để tạo thành tướng pháp, không kẹt vào tướng dụng công, bặt các dấu vết của tâm;không ở trong chỗ rỗng không mà lập phần hạn, sở đắc, hoặc làm bất cứ gì tạo thành dấu vết.  Như thế, tợ như không làm gì, nhưng không mê thì tánh tự sáng biết.Sống thẳng tánh ấy là tu hành, là tu trong vô tu. Khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm tự bừng sáng, toàn thể hiện bày, niệm vốn tự không, bặt dứt nghi ngờ, không cần phải nhọc nhằn cố bàn nói thêm gì trong ấy.

Như vậy, nói “Chân tâm vô niệm” là nói thật về thể của chân tâm vốn không có niệm lự. Hành giả nhân đó biết được hướng tiến, khéo léo dụng công để khế hợp chân tâm như vừa nêu trên. Sẽ có lúc tâm này bừng sáng, sẽ tự mình thấy ra “Chân tâm vô niệm”.

3. CHÂN TÂM VÔ NIỆM – VÔ NIỆM CHÂN TÂM.

Ngộ chân tâm, tâm ấy vốn vô niệm. Nhưng đạt đến vô niệm, chưa hẳn đã ngộ chân tâm. Cụ thể, Thiền sư Cảnh Sầm nói: “Chớ bảo vô tâm gọi là đạo, Vô tâm còn cách một lớp rào”. Nhưng Sơ Tổ Trúc Lâm thì bảo: “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền”. Cùng là vô tâm, nhưng hai nghĩa này khác nhau. Một bên “Vô tâm chưa phải đạo”, bên kia thì ngược lại. Chúng ta thấy ra gì về nghĩa vô tâm?

Thiền sư Cảnh Sầm nói: “Chớ bảo vô tâm”, tức là Ngài thấy đang có người cảm nhận về vô tâm, có một cái được gọi là vô tâm (tâm không) để giữ lấy. Đã là có thì dù có cái gì đi nữa, kể cả cái tâm không, cũng không phải bản tâm chân thật vốn không một vật chính mình. Cái vô tâm ấy là làm cho được vô, chứ không phải bản tâm tự rỗng thênh, vốn không một vật. Ngài gọi đây là đầu sào trăm trượng. Vì vậy trong một bài kệ khác, Ngài bảo: “Đầu sào trăm trượng thêm bước nữa, Mười phương thế giới hiện toàn chân”.

Thiền sư Phật Nhãn nói: “Không nên ở trong chỗ rỗng không, không bờ mé mà lập phần hạn. Nếu lập phần hạn, tức đó chỉ là cái rỗng không, không bờ mé, bèn bị rơi kẹt”. Nghĩa là Ngài nhắc, không nên nhằm trong chỗ rỗng không, thầm thấy có một cái tâm không để cảm nhận, giữ gìn. Đây chính là chỗ vô tâm mà Thiền sư Cảnh Sầm đã nhắc, chớ bảo đó là đạo.

Sơ Tổ Trúc Lâm bảo: “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi Thiền”. Ngay câu trước Ngài đã nhắc: “Trong nhà có báu thôi tìm kiếm”. Nghĩa làcần nhận lại của báu vốn sẵn trong nhà (bản tâm) thì bản tâm ấy vốn tự không (rỗng thênh), chứ không phải do cảm nhận được; hay do làm gì đó để được không.

Cho thấy, cùng là vô niệm, vô tâm, nhưng nếu đã ngộ tánh thì tánh ấy tự không. Bằng chưa ngộ thì mới chỉ ở trong chỗ thuần tịnh, rỗng không, không bờ mé. Thiền sư Pháp Thành ở Hương Sơn nói: “Dù cho thuần thanh tuyệt điểm vẫn còn là chơn thường lưu chú”. Hành giả thấy mình sạch sành sanh, không còn vết bợn nào, nhưng trong ấy vẫn còn sự trôi chảy nhỏ nhiệm trong tự tánh chơn thường mà chính mình không nhận ra. Cho đến khi ngộ tánh mới biết trước kia chưa phải.

Việc này phụ thuộc vào cách dụng công của hành giả. Nếu quý vị lanh lợi, ngay đây nhận thẳng tánh sáng biết, không can hệ trên niệm và các cảnh có hay không, không liên can đến các thứ lớp của động và tịnh, tu và chứng thì tâm tánh hiện tiền. Tâm ấy tự rỗng rang, thênh thang, không nơi nào thiếu vắng; ngay đó là đạo. Ngược lại, nếu hành giả công phu theo hướng hàng phục vọng tâm hoặc quét sạch tất cả thì sẽ đi đến điền địa chuyển tiếp của thuần tịnh, là còn cách lớp rào, chỗ này chưa phải đại đạo chân thật.

Thiền sư Tông Mật nói, nhất hạnh tam muội còn gọi là bản tâm. Lục Tổ đứng trên nhất hạnh tam muội làm cơ sở lập trường để lập ra phương tiện tam vô, trong đó có vô niệm. Hành giả y đây tu hành, trở về nhận lại nhất hạnh tam muội. Qua lời Ngài dạy, chúng ta có thể nhận ra vô niệm trong tam vô chính là phương tiện cho hành giả hành trì, là con đường để đi đến đích nhất hạnh tam muội (bản tâm). Khi hành giả trực ngộ bản tâm, liền hay ra chân tâm vốn tự vô niệm.

4. CHÂN TÂM LÀ BIẾT HAY KHÔNG BIẾT?

Chân tâm không thuộc về biết cùng chẳng biết. Khởi biết, thấy có cái biết là đã thành tướng biết, đó là vọng giác. Nếu không biết thì rơi vào vô ký. Chỉ khéo mất hút các tướng, không mê mờ thì liền đó trả lại bản thể chân tâm, tâm ấy tự sáng biết. Không cần sanh khởi, không phân biệt, vẫn bất động, nhưng tự sáng biết một cách chủ động, linh thông rành rẽ rõ ràng hơn cả sự phân biệt lanh lợi của ý thức. Chính vì bất động nhưng tự sáng biết, không biết về biết theo cảnh vật, không đợi có vật mới biết, chính nó sẵn tự sáng biết do đó chân tâm không nằm trong “Biết cùng chẳng biết” theo kiểu tìm hiểu, học hỏi, nhận biết một cái gì đó bên ngoài. Hành giả ngộ ra, liền tự thấy ra rất rõ, tất cả hiện tiền trước mắt. Nếu chưa ngộ, còn dụng công thì cần lưu ý rằng, không nên thấy có một cái biết để chúng ta nhận rõ hoặc nắm giữ nó. Chỉ là khéo vắng bặt, mất hút dấu vết và không mê, ngay đó chân tâm tự sáng biết.

5. BIẾT CÓ CHÂN TÂM.

Thiền sư Phổ Chiếu nói: “Biết không sanh tử, chẳng bằng thể không sanh tử. Thể không sanh tử, chẳng bằng khế không sanh tử. Khế không sanh tử, chẳng bằng dụng không sanh tử”. Cho thấy, biết rõ cái không sanh tử, sanh tử không can hệ, không đến kịp, đó là chân tâm, như thế đã được Thiền sư Phổ Chiếu chứng minh xác quyết vào hàng biết rõ tự tánh chính mình. Và “Biết được chỗ không còn sanh tử” chính là “Biết có chân tâm”.

Sự thật, nếu chưa đủ duyên nghe giảng, khai thị hay tu tập để nhận ra, chúng ta không hề biết mình có chân tâm. Khi được thiện tri thức chỉ bày, khai thị, chúng ta sực nhận ra, sáng lên, như thế là đã có duyên với thiền tông, sẽ có lúc nhận lại, bừng ngộ bản tâm chân thật này.

Trưởng Lão Định Hương xuất gia tham học nơi Thiền sư Đa Bảo. Một hôm Sư hỏi Thầy mình: “Làm sao thấy được chân tâm?”. Thiền sư Đa Bảo đáp: “Là ngươi tự nhọc”. Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, thưa: “Tất cả đều như vậy, đâu phải riêng con”.

Ngộ chân tâm, không phải ngộ ra một chân tâm như thế nào đó; mà chỉ là trả lại chính nó, tâm ấy tự bừng ngộ. Lúc này hành giả tự mình nhận ra rất rõ, tất cả diệu lực đều tự mạnh lên, đúng như chính nó đã sẵn. Chân tâm đã sẵn đủ nơi chính mình, chỉ khéo nhận lại, liền sáng ra, hiển hiện. Nếu thấy được chân tâm thì chân tâm đã trở thành đối tượng bên ngoài bị thấy, không phải chính nó. Như thế, không khéo đã biến chân tâm thành tướng, là đã vụng về trong thể chân tâm vô tướng vốn sẵn kia. Ngài Định Hương muốn tìm thấy được chân tâm, khởi tìm để thấy được chân tâm, cho đến tu hành mong thấy được chân tâm thì càng bị ngăn cách, xa nó. Vì vậy, Thiền sư Đa Bảo nói: “Đó là ngươi tự làm nhọc mình”, không thể thấy. Ngay đó, Ngài Định Hương sực nhận lại, liền hay ra, chân tâm hiện tiền, liền thưa: “Tất cả đều như vậy, đâu phải riêng con”. Ngài nhận ra và ngạc nhiên, tất cả ai ai cũng đều đã sẵn vậy lâu lắm rồi, không phải của riêng ai. Nhưng tại sao cũng giống như mình trước đây, lâu nay sống trên nó mà đi tìm bên ngoài, nhọc nhằn vô ích, luống chịu các khổ não không đáng có.

Nếu hành giả lanh lợi, bản lĩnh hơn, ngay đây thoạt nghe liền nhận, sẽ hay ra chân tâm sẵn đó từ lâu lắm rồi, ai cũng đủ, chưa từng thiếu vắng. Dám tin và sống thẳng bằng chính nó, lâu dần sẽ thuần thục, lực dụng hiện tiền, đạt đến viên thông. Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi khi đến gặp Tam Tổ Tăng Xán đang lánh nạn trong núi Tư Không. Tam Tổ không nói gì. Lặng yên trong khoảng trầm ngâm, Ngài chợt sáng ra tâm này. Tổ dạy về phương Nam giáo hóa. Ngài Tỳ Ni Đa Lưu Chi bảo nhậm, viên thông, khai thị, truyền thiền, trở thành vị Tổ của một dòng thiền tại Việt Nam mang đạo hiệu Ngài. Không làm gì nhiều, một nhận, dám sống, liền xong. Đây là gương sáng cho chúng ta tự tin, xác quyết mình cũng có phần. Tổ Tỳ Ni Đa Lưu Chi đã làm được như vậy, nếu chúng ta tự tin, quả quyết thì phần mình không thiếu.

Sự thật, không phải trải qua tu hành tạo tác mà chỉ là khéo nhận lại liền xong. Nếu chưa thể như thế thì bất đắc dĩ phải tạm thời hàng phục vọng tâm, phải tu hành nhiều công sức vậy thôi. Biết vậy để chúng ta mạnh dạn dám nhận thẳng tâm này, việc tu tiến sẽ rõ ràng hơn rất nhiều.

Tăng hỏi Tào Sơn Bổn Tịch: - Thế nào là mênh mang bát ngát chuốc họa ương?

Sư đáp:   - Chỉ là cái ấy.

Thiền sư Huyền Giác nói: “Thoạt đạt không, bác nhân quả. Mênh mông bát ngát chiêu ương họa”. Vị Tăng đem việc này hỏi Thiền sư Bổn Tịch, Sư đáp: “Chỉ là cái ấy”. Nghĩa là, dù ở trong chỗ ngoan không, hay vọng thức mênh mang bát ngát, hoặc đã chiêu lấy họa ương vào trong sanh tử, nhưng tâm tánh mình (cái ấy) không thiếu vắng. Như người ngủ mê, nói mớ, nhưng thân vẫn nằm bất động trên giường. Khéo nhận lại, mới hay ra cũng chỉ là chính nó, liền thoát khỏi ngoan không, vượt thoát sanh tử.

Tăng hỏi:- Làm sao khỏi được?

Sư đáp: - Biết có liền được, dùng khỏi làm gì?Chỉ là Bồ-đề, Niết-bàn, phiền não, vô minh v.v… (tất cả các pháp đối đãi hai bên) thảy đều chẳng cần khỏi. Cho đến việc thô trọng ở thế gian cũng thế, miễn biết có là được, chẳng cần khỏi; khỏi tức đồng biến dịch (dời đổi) rồi.

Ngài Tào Sơn khẳng định, chỉ sáng lại tánh này, biết có chân tâm liền được, không vụng về tạo tác thêm gì trong ấy. Cụ thể trong công phu, hành giả không can thiệp hay làm thêm bất cứ gì trên vọng, trên các tướng; chỉ là không theo, không mê thì tánh tự thấy biết, vô tướng – sáng ngời. Khéo nhận, dám sống, liền đó hay ra rõ ràng. Không biết có, quên tánh này, liền rơi vào các tướng, tạo tác sanh diệt, tu hành vô lực.

6. CHÂN TÂM THẤY BIẾT TẤT CẢ, VƯỢT THOÁT TẤT CẢ, NHƯNG TỰ TẠI HAY VÀO RA TẤT CẢ.

Thiền sư Cứu Chỉ, Việt Nam nói:

Tuy thấy tất cả pháp mà không có chỗ thấy, tuy biết tất cả pháp mà không có chỗ biết. Biết tất cả pháp lấy nhân duyên làm gốc. Thấy tất cả pháp lấy chánh chân làm tông. Tuy chuyên nơi thật tế mà rõ thế gian đều như biến hóa. Rõ thấu chúng sanh chỉ là một pháp, không có hai pháp. Chẳng rời cảnh nghiệp mà phương tiện khéo léo, ở trong cõi hữu vi hiện bày pháp hữu vi mà không phân biệt. Tướng vô vi là do hết dục, dứt ngã, quên niệm mà nhận lấy vậy.

Phàm phu thấy biết phan duyên. Khi thấy biết là phải thấy biết về cái gì đó; tức là có chỗ thấy biết, bỏ quên tự tánh. Bậc đã đạt ngộ, tâm cảnh nhất như, vốn tự sáng biết, không khởi phân biệt, không đợi có vật mới biết, không tìm vật để thấy biết; Thiền sư Cứu Chỉ nói, tuy thấy biết tất cả mà không chỗ thấy biết. Cụ thể, khi tâm cảnh nhất như, thấy biết tất cả một cách rõ ràng, linh thông và chủ động hơn cả sự thông minh của ý thức, nhưng bất động, vượt thoát, suốt qua tất cả, không dừng trụ; nên nói không có chỗ thấy biết. Nếu vậy, bậc đạt ngộ thấy biết tất cả như thế nào?

Lúc này, biết rõ các pháp đúng như thật, tất cả đều do nhân duyên sanh. Vì do nhiều yếu tố hợp lại mà thành cho nên các pháp đều huyễn hóa. Quý ngài sống thẳng tự tánh sáng biết không động, vượt thoát các vận hành, không bị các sanh diệt chi phối để thấy biết; chứ không phải biết theo các pháp để chìm trong ấy, bị lưu chuyển hoặc cuốn theo vô thường sanh diệt, tụ tán, hợp tan. Nên nói, biết tất cả pháp lấy nhân duyên làm gốc. Điểm chính yếu ở đây là hành giả sống bằng chân tâm, thấy biết như thị, không động, ngay chánh, không thiên lệch để thấy biết tất cả; không chìu uốn theo phàm tình hay bị vọng động. Nên nói, thấy tất cả pháp, lấy chánh chân làm tông.

Không rời tự tánh vắng lặng, sáng rỡ (thật tế, mé thật), nhưng rõ biết thế gian biến thiên, được biến hóa ra. Tức là không phải quay lưng, ngoảnh mặt hay lảng tránh, chỉ dùng trí tuệ thấy biết các pháp đúng như thật mà không cần khởi phân biệt. Biết đúng các pháp là huyễn hóa, nhưng vẫn bất động, đây là như huyễn tam muội. Thiền sư Cứu Chỉ nói, tuy chuyên nơi thật tế mà rõ thế gian đều như biến hóa.

Lúc này thấy rõ tất cả chúng sanh đều có chân tâm; đây là pháp thứ nhất. Nhưng do bỏ quên, cho nên bị trôi trong sanh tử; đây là pháp thứ hai. Hành giả ngộ tâm, không thấy có hai việc sai khác. Cụ thể, nhìn thấy tất cả chúng sanh, ai cũng chỉ là một tâm chân, nhưng do mê nên tạm thời bị che khuất. Có trôi trong sanh tử thì sanh tử cũng không thật, tánh sáng biết vẫn sẵn đó, chỉ là sống trên nó mà bỏ sót, bị quên. Nếu ai sáng lại tâm này, liền đó hay ra Tâm – Phật – Chúng sanh, bình đẳng, không sai khác như thế. Sẽ rõ thấu chúng sanh chỉ là một pháp, không có hai pháp.

Ví như không cần khởi, không động mà cánh tay vẫn cử động linh hoạt, không ngăn ngại. Đây là sống động, linh thông đến chủ động, nhưng vẫn không động. Cũng thế, không cần khởi, vẫn sáng biết. Ở trong ấy, tự tại hiện bày các pháp lợi mình lợi người không ngăn ngại. Các bậc có đại lực lượng thì thị hiện, tự tại vào trong các cảnh nghiệp sai biệt làm lợi ích chúng sanh, nhưng không bị nghiệp sai sử. Đây là chỗ Thiền sư Cứu Chỉ nói: “Chẳng rời cảnh nghiệp mà phương tiện khéo léo, ở trong cõi hữu vi hiện bày pháp hữu vi mà không phân biệt”. Nhờ diệu lực của định tuệ từ chân tâm, lưu xuất diệu dụng bất khả tư nghì cho hành giả tự được như vậy, chứ không có tác dụng cố gắng hay làm thêm gì trong đó.

Cuối cùng, Thiền sư Cứu Chỉ khẳng định: “Tướng vô vi là do hết dục, dứt ngã, quên niệm mà nhận lấy vậy”.

Đây là Ngài nói thẳng, rất thật và gần. Muốn đạt đến “Thực tướng vô tướng” thì chỉ nên ngay ba việc này để kiểm chứng công phu và bảo nhậm: “Hết dục – Dứt ngã – Quên niệm”. Không mong cầu hay hy vọng trông mong gì bên ngoài, sẽ hết dục. Rỗng rang, không phân biệt ngã và pháp, ta và người, liền dứt ngã. Không can thiệp trên niệm, không cố thấy hoặc quan tâm niệm còn hay đã hết, chỉ sáng lại tâm mình; đúng nghĩa quên niệm. Hay sống như thế, ngay đó liền được sạch trọi trơn, bày trơ trơ. Khéo nhận lại ngay, liền sống dậy, chân tâm hiện sờ sờ, hay ra xưa nay chưa từng thiếu vắng.

Hành giả sống bằng chân tâm thuần thục, đắc lực, sẽ đạt đến thể dụng luôn hiện tiền mà không cần phân biệt đây là thể, kia là dụng. Lúc này, diệu dụng tự phát huy bất khả tư nghì, tùy duyên thị hiện các hạnh, làm tất cả việc lợi mình, lợi người không thể kể hết.

7. CHÂN TÂM CHO HÀNH GIẢ TỰ TẠI TRONG SANH TỬ.

Chúng sanh trôi lăn trong sanh tử, nhưng giác tánh chưa từng sanh tử. Như mộng thấy bị sai khiến mà thân vẫn nằm yên. Như nước đóng thành băng mà tánh ướt không bị biến đổi. Nếu ngộ ra ý chỉ này, liền đó trả lại bản tâm sáng tịnh, chân tâm hiện tiền. Tiếp tục bảo nhậm, sống thẳng bằng chân tâm chính mình, tùy duyên tiêu dung tập khí, tập nghiệp, đạt đến thấu triệt, viên mãn, diệu lực bất khả tư nghì. Chính diệu lực từ chân tâm cho hành giả tự tại, tiêu sái, hay vào ra tất cả mà vượt thoát tất cả. Với sanh tử cũng vậy.

Nếu chưa thể như thế thì việc dụng công tu tập bằng cách: Hằng ngày lấy cái rỗng lặng làm thân, không chấp sắc thân huyễn hóa. Lấy cái chân tri làm tâm, không theo vọng tưởng. Trên mọi cảnh duyên, luôn sẵn một tâm giác sáng. Gặp cảnh duyên nào cũng luôn công phu tu tập như thế. Lâu dần thuần thục, lực giác sẽ mạnh lên, sẽ cho chúng ta không mê lầm hay bất giác trên bất kỳ cảnh duyên nào; sẽ có nội lực, định lực để làm chủ bản thân, vọng niệm và hoàn cảnh. Theo thời gian, công phu thuần thục, đắc lực, lực dụng của trí tuệ giác sáng hiện tiền. Nhờ vậy, lúc sắp mạng chung, cảnh nghiệp có hiện ra, nhưng do công phu thuần thục và đã có nội lực nên cũng sẽ thấy biết bằng lực giác sáng như thế, không theo chúng hay mừng sợ gì. Lát sau, tất cả cảnh nghiệp tự tan biến hết, tâm giác sáng thường còn, chúng ta muốn đi đâu hay làm gì đều được tùy ý, tự tại.

Tóm lại, hằng ngày luôn sống bằng chân tâm. Biết rõ, tất cả các cảnh chung quanh cho đến cảnh nghiệp đều do tâm biến hiện cho nên chúng đều là huyễn hóa, không thật. Sự thật, tất cả đều do tâm mê biến hiện, mới có ra. Nếu giác sáng đúng mức thì tất cả đều trở nên lặng trong, không còn gì chi phối. Giống như do chúng ta nhắm mắt lại mà tự thấy có cái bóng. Mở mắt, toàn không. Tâm cần vững vàng, tự tin và kiên định với công phu, sống bằng sức giác sáng lặng trong chính mình, không thấy biết theo cảnh duyên và không thèm sợ hãi gì cả. Nên buông thư, thơ thới, thả lỏng, bình thường, không gắng gượng hay quan tâm bất kỳ cảnh duyên nào, sẽ tự trở lại chân tâm vô tướng. Lực của tâm tự phát huy sức mạnh, cho chúng ta tự chủ, tự tại, giải thoát.

Biết có chân tâm, tùy theo sự bảo nhậm và sức huân tu sâu hay cạn mà có đức dụng tương ứng. Nếu luôn sáng lại tâm mình trên tất cả động dụng thi vi, không theo các huyễn, lúc sắp lâm chung, Thiền sư Tông Mật khẳng định: “Tuy có thân trung ấm, nhưng muốn đến đâu tự do, trời, người tùy ý. Nếu tình yêu ghét sạch thì không còn thọ nhận thân phần đoạn này nữa, mà tự nhiên đổi ngắn thành dài, đổi thô thành diệu. Nếu tất cả phiền não nhỏ nhiệm vắng lặng thì Đại Trí Viên Giác sáng rỡ riêng còn, liền tùy hiện trăm ngàn muôn ức thân hóa độ chúng sanh, gọi là Phật”.

8. KẾT LUẬN.

Thể nhận chân tâm tựu trung có hai lối. Hoặc là ngay đây trực nhận. Nếu chưa thể như thế, hành giả khéo đúng như pháp để tu tập dần. Hàng phục vọng tâm, theo thời gian, nhân duyên chín muồi, cũng sẽ bừng ngộ. Dù ngộ hay chưa, nếu khéo hướng tánh tu tập, không can thiệp hay kẹt vào các tướng, hành giả sẽ thoát khỏi mê lầm nhận huyễn làm chân, đều có những tự chủ, lợi lạc nhất định. Đi trong sanh tử, có chân tâm làm thầy, hướng đạo, cho chúng ta không lầm đường lạc lối. Lớn hơn, chính tâm này giúp hành giả tiêu sái, tự tại. Hòa thượng Tông chủ đã từ bi chỉ thẳng cho chúng ta ngay thấy nghe biết, chân tâm đang hiện tiền, không thiếu vắng. Khéo tin nhận, dám sống thẳng là chân thật dụng công, sẽ tự mình nhận ra những vi diệu sâu xa khó thể nghĩ bàn. Một kiếp tu hành, mãn tâm, xứng ý.

 

 

 

 

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

785261
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
1107
3077
16714
751266
71549
94570
785261