TT.Thích Tâm Hạnh 
PHẦN 2 - BÁT NHÃ QUA CÁC CÂU HỎI
- Phần 1, đã nói về “Tổng Quan Tư Tưởng Hệ Bát Nhã” để có một cái nhìn khái quát, đầy đủ, ngắn gọn cho học nhơn khéo nhận.
- Sang Phần 2 - Bát Nhã Qua Các Câu Hỏi, tức là đặt ra một số câu hỏi có liên quan hoặc đi thẳng vào trọng tâm Tư Tưởng Hệ Bát Nhã. Thông qua các câu hỏi này, khi đã nhớ và hiểu thì đọc vào toàn văn, tự khắc thông suốt hết.
- Cho nên Phần 2 này đòi hỏi mỗi người cần nhớ, hiểu, thông suốt nghĩa lý, đồng thời khéo ứng dụng, khéo nhận lại nơi mình thì sẽ có lợi ích.
***
MỤC 1 - CÂU HỎI CĂN BẢN
Câu số 1: Nếu chưa thể ngay đây liền tỏ ngộ, hoặc khéo thầm nhận thì người học và tu tập Bát Nhã cần trải qua mấy bước?
Đáp:
(1) Văn tự Bát-nhã(Lập thành): Học, nhớ, hiểu thông.
(2) Chiếu kiến hoặc Quán chiếu Bát-nhã(Thực hành = Phá tướng): Đây là ứng dụng, vận dụng những gì đã học hiểu để thực hành vào công phu tu tập hằng ngày.
(3) Thực tướng Bát-nhã(Đạt được điều Bát Nhã muốn chỉ = Chỉ tánh): Khi công phu thuần thục, đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, bất ngờ ngộ ra Thể tánh Bát-nhã ngay nơi chính mình, đạt được điều cốt lõi mà Bát Nhã muốn chỉ.
Ba bước tu tập trên chỉ trùng hợp trong quy trình đào tạo[1], chứ không phải ba bước trong quy trình đào tạo. Bởi quy trình đào tạo người học Phật lớn rộng hơn.
Câu số 2: Hành giả tu Phật, ai cũng dùng Trí tuệ Bát-nhã, nhưng tựu trung khả năng có thể nằm trong bao nhiêu phạm trù?
Đáp:
Câu hỏi nhằm mục đích để chúng ta không bị giới hạn, không bị hiểu lầm về việc ứng dụng Trí tuệ Bát-nhã trong công phu tu hành. Cụ thể, việc ứng dụng Trí tuệ Bát-nhã không chỉ giới hạn qua ba bước như vừa nêu trên (ở câu số 1), mà phải nhận ra các khía cạnh còn lại đã được đặt ra trong câu hỏi.
Câu hỏi đã được đặt ra:“Nếu chưa thể ngay đây liền tỏ ngộ, hoặc khéo thầm nhận thì người học và tu tập Bát Nhã cần trải qua mấy bước?” Theo đó, sẽ có câu trả lời cho câu hỏi thứ 2 này là: Hành giả dùng Trí tuệ Bát-nhã trong công phu tu tập, tựu trung sẽ nằm trong hai phạm trù: Hoặc “nhận thẳng”, hoặc “tu tập dần dần”. Cụ thể:
(1) Đốn ngộ;
(2) Nhận thẳng hoặc khéo thầm nhận.
(1) Chiếu kiến: Chiếu kiến khéo thầm nhận tự tánh giác sáng, và chiếu kiến chưa khéo thầm nhận (tức có dụng công tu tập);
(2) Quán chiếu: Trải qua ba bước “Văn tự Bát-nhã _ Quán chiếu Bát-nhã _ Thực tướng Bát-nhã” như đã nêu ở câu số 1.
Rõ được điều này, sẽ trừ được cái thấy biết sai lầm rằng: “Tu tập Bát Nhã chỉ có trải qua ba bước của quán chiếu. Ngoài ra, không thấy thêm gì nữa.” Đó là cái thấy biết chưa đầy đủ, thì dù có tu ba bước trên, cũng mê tự tánh, không thể đạt đến rốt ráo (ngộ Thực tướng Bát-nhã). Ngược lại, nếu thấy biết đầy đủ về tu tập Bát Nhã như vừa nêu trên, thì ứng dụng theo phương thức nào, cuối cùng cũng đạt ngộ, bởi có biết trước và hướng tánh để dụng công.
Câu số 3: Các pháp huyễn hóa là một sự thật. Nhưng nghĩa huyễn hóa được hiểu qua mấy phương diện, kể ra?
Đáp:
Căn cứ trên 3 nhóm nguyên lý căn bản để nhận biết và khẳng định các pháp huyễn hóa:
(1) Vô thường sanh diệt, cho nên không thật (nhìn theo thời gian):
a) Thế giới: Thành – Trụ – Hoại – Không: Hình thành, tạm có, biến hoại, trở về không.
b) Vạn vật: Sanh – Trụ – Dị – Diệt: Sanh ra, tạm có, biến đổi, hoại diệt.
c) Chúng sanh: Sanh – Lão – Bệnh – Tử: Sanh, già, bệnh, chết.
(2) Huyễn hóa, cho nên không thật, như bóng trăng đáy nước (nhìn theo không gian):
a) Không có chủ tể, không do duy nhất một thứ chính làm nên. Vì thế, không phải tự có.
b) Do nhân duyên hợp lại mà thành.
(3) Xác định một pháp là huyễn hóa, không thật qua ba yếu tố:
a) Các pháp không phải nơi mình, mà ở bên ngoài, bị mình thấy biết.
b) Các pháp không phải duy chỉ có một, mà do nhiều nhân duyên, yếu tố hợp lại, làm thành.
c) Chúng luôn biến đổi vô thường sanh diệt, không cố định, không bền chắc.
(1) Lắng lại, sáng ra, nó ở nơi mình.
Bởi những gì buông được (thân, tâm sanh diệt, của cải vật chất...) đều ở ngoài mình. Gạn đến tận cùng, tâm sạch sáng, không mê thì chỉ còn một cái buông không được, bỏ không xong, nó sờ sờ ra đó, vô tướng sáng ngời, nghe nói liền biết, ở ngay nơi mình.
(2) Buông hết rồi, chỉ còn mình nó, tức chỉ có một.
(3) Chân tâm vô tướng, cho nên không bị vô thường biến đổi sanh diệt.
Qua 3 điều kiện trên, cho thấy: Chân tâm là chân thật. Tất cả những gì trái với ba điều kiện ấy thì biết chúng đều là huyễn hóa, không chắc thật.
Câu số 4: Chữ “Không” trong Bát Nhã được hiểu qua mấy thuyết?
Đáp:
Thực tế, chỉ cần thấy biết đúng sự thật bản chất các pháp là hư huyễn, liền tỏ suốt tất cả đều “Không”. Nhưng tùy theo trình độ tu tập của mỗi hành giả mà thấy qua các thuyết khác nhau. Ở đây tạm đơn cử ba thuyết:
(1) Huyễn hóa, không thật
- Thế giới: Thành – Trụ – Hoại – Không.
- Vạn vật: Sanh – Trụ – Dị – Diệt.
- Chúng sanh: Sanh – Lão – Bệnh – Tử.
- Không có chủ tể: Không do duy nhất một thứ chính làm nên. Do đó, không tự có.
- Do nhân duyên: Do nhiều thứ (phân tử...) hợp lại mà thành. Vì vậy, nó là huyễn hóa.
(2) Hư không
- Vạn vật tồn tại trong hư không.
- Giữa các vật, các phân tử, tế bào... đều có các khoảng hư không.
- Vì sự kết hợp một cách rời rạc như thế cho nên các pháp luôn dao động, không chắc thật.
Do đó, các pháp đềuhuyễn hóa, không thật.
(3) Không tịch: Rỗng lặng.
- Luôn thấy biết các pháp bản chất đều huyễn hóa, tạm bợ, không thật như thế để không còn dính chấp. Do không dính chấp nên cảnh tự lìa. Khi này, Tâm không (rỗng lặng) - Cảnh tịch (vắng bặt), tâm thể rỗng lặng, sáng biết chủ động linh thông, nhưng vẫn bất động. Tâm cảnh như như, thấy biết như thị.
& DẪN CHỨNG
Kinh Viên Giác, đức Phật dạy: “Này thiện nam, vì huyễn thân của các chúng sanh kia diệt cho nên huyễn tâm cũng diệt. Vì huyễn tâm diệt nên huyễn trần cũng diệt. Vì huyễn trần diệt nên cái huyễn diệt cũng diệt. Cái huyễn diệt đã diệt, nhưng cái phi huyễn (tánh Viên giác) không thể diệt được. Thí như lau gương, bụi nhơ hết thì ánh sáng hiện. Này thiện nam, nên biết thân tâm đều là huyễn hóa nhơ bẩn, tướng nhơ bẩn đó diệt hẳn rồi thì (tánh Viên giác) thanh tịnh khắp mười phương.”[2]
a) Huyễn thân diệt: tức không chấp thân này là thật, không dính chấp trên nó.
b) Huyễn tâm diệt: khi thân này không dính thì tâm sanh diệt cũng vắng lặng.
c) Huyễn trần diệt: thân tâm đã không dính thì trần cũng diệt.
d) Huyễn diệt diệt: cái thấy như huyễn cũng không còn.
e) Phi huyễn hiện tiền: khi không còn tướng để sanh khởi (tướng thân hết, tướng tâm lặng, tướng trần mất, tướng mà mình thấy biết đó là huyễn cũng không) thì lúc này chỉ một tâm vô tướng sáng ngời.
- Do tình chấp nên có huyễn sanh.
- Do trí quán nên thấy có huyễn diệt.
- Thấy có sanh và diệt là nhân duyên đối đãi.
- Không trụ chấp vào có chỗ diệt thật, đó là cái huyễn diệt được diệt thì “phi huyễn hiện tiền”.
- Do quan trọng thân, do đó tâm mới sanh khởi. Biết thân này huyễn, không còn chấp thì tâm cũng không nghĩ ngợi để bảo vệ và vun đắp cho cái gì.
- Bởi tâm phân biệt, hiểu biết, ghét thương, lấy bỏ... cho nên các trần duyên mới có giá trị chi phối. Khi tâm đã vắng bặt thì các duyên cũng lặng trong.
- Lúc này, thân, tâm phân biệt và các trần đã dứt bặt (diệt); cũng không chấp thấy có cái vắng bặt, lặng trong thì cái phi huyễn (tâm tánh) hiện tiền.
Đây là nói theo thứ lớp tiệm tu đối với hành giả hạ thủ công phu còn thấy có tướng dụng công tu tập, chưa khéo vô tác, tu trong vô tu.
Ban đầu, bởi sanh tâm chấp tướng nên huyễn vọng mới sanh. Đối với tướng huyễn mà tu hành, hàng phục, có tướng dụng công (dùng trí quán hoặc chiếu kiến mà không khéo nhận tự tánh), do đó thấy có vọng huyễn được diệt. Điển hình: Vì hàng phục vọng tưởng mà tu, tức nhằm trên huyễn để hàng phục, nên khi vọng lặng thì thấy có cái huyễn được diệt.
Nhưng cần nhớ rằng, sở dĩ nói huyễn, lìa huyễn là bởi vì tình chấp của mình, chứ nó không thật có. Và nếu không khéo nhận tánh chân thì chúng ta sẽ thấy có một cái huyễn thật để mình biết và lìa. Và sự thật là, khi tình chấp hết thì không nằm trong huyễn và chân mà toàn thể là một tánh sáng ngời.
Nếu đang dụng công thì cần có cái thấy biết đúng đắn rằng, sanh và diệt là hai tướng đối đãi. Thấy có huyễn vọng sanh, rồi tu hành thấy nó đã được lắng lại, đó là nhằm trên tướng sanh diệt đối đãi hai bên để thấy biết, tức đã quên bản tâm mà phan duyên, thức mê còn có chỗ để tồn tại. Công phu như thế sẽ không có kết quả, vô lực, vẫn chưa an toàn, bởi mầm mống của sanh tử hãy còn.
Lìa hai bên sanh diệt đối đãi, vọng sanh cũng chỉ là huyễn, cho nên chúng không thật sanh; có lặng cũng là tướng huyễn, vì vậy cũng không thật diệt. Không can thiệp trên vọng, không thèm sanh tâm gì trên việc sanh và diệt của các vọng (không trụ chấp vào có chỗ diệt thật; đó là huyễn diệt được diệt). Lúc này, cái phi huyễn (tâm tánh) hiển hiện rõ ràng. Chỉ sống bằng tâm tánh này, chính thực là đang tu.
*Đúc kết.
Bát-nhã là trí tuệ sáng suốt, biết rõ lẽ thật của các pháp. Cụ thể:
* Thực tiễn
Chúng sanh đang sống và vận hành theo nghiệp cảm: Con ong thì bay trên trời, làm mật, yêu mến hoa; con cá thì bơi dưới nước, ăn và sinh hoạt dưới môi trường ấy; con người thì ăn cơm, học thức, sáng kiến... phục vụ cho cuộc sống. Cho thấy, tất cả đang sống theo nghiệp thức, do nghiệp cảm nên. Nếu không sáng chân tâm thì tất cả chỉ là tạo tác, bị chi phối, chưa ổn.
Câu số 5: Chữ “Không” trong Bát Nhã có phải là “Tự tánh không” hay không?
Đáp:
- Tùy theo trình độ tu tập của mỗi hành giả mà nhận ra cái “Không” này có khác nhau.
- Cho đến khi đạt suốt, rốt ráo, sẽ gặp nhau, không còn thấy khác.
1) Nếu hành giả đang “Quán chiếu” các pháp, thì sẽ thấy “Không” là vô thường, không thực thể, là không thật.
2) Vị nào đang “Chiếu kiến” các pháp, thì sẽ thấy “Không” là huyễn hóa, rỗng tuếch.
3) Nếu “Chiếu kiến”, nhưng khéo thầm nhận tự tánh giác sáng, thì “Không” là sự rỗng lặng, không tịch.
4) Hành giả đã thể ngộ Tánh thể Bát-nhã, thì“Không” là sự vắng lặng của tự tánh.
5) Nếu đã đạt ngộ cứu cánh, lúc này toàn tâm là tánh, không còn bóng dáng khác để có cơ sở bàn đến là “Không” hoặc “Hiện hữu”. Tất cả chỉ là bặt vết, như thị, hiện thành và linh thông tự tại bất tư nghì. “Không” lúc này chính là thể tánh thênh thang trùm khắp, bặt cả có và không.
Câu số 6: Phân tích “Thân, tâm sanh diệt đều không” qua lý Bát Nhã?
Đáp:
* XÁC ĐỊNH TẦM NHÌN
Phân tích để thấu suốt các pháp đều huyễn, để đạt suốt Thực tướng Bát-nhã (Trí tuệ Bát-nhã), đúng tôn chỉ đức Phật muốn chỉ bày.
* THÂN TÂM SANH DIỆT ĐỀU KHÔNG
1. Theo thời gian → Vô thường sanh diệt: Phân tích qua ba thời:
- Khi cha mẹ chưa sanh, thân này chưa có.
- Nay tạm có trong một khoảng, nhưng cũng luôn sanh diệt biến đổi.
- Rồi cát bụi sẽ trả về với cát bụi, thân cũng sẽ trở về không.
- Khi chưa có điện thoại iPhone, con người chưa có khái niệm mong có nó.
- Khi vừa cho ra đời iPhone II, mọi người mơ ước làm sao mình có được để thể hiện đẳng cấp.
- Cho đến nay đã có không biết bao nhiêu thế hệ iPhone mới, cái iPhone II từng là mơ ước để thỏa sức thể hiện mình trước kia, bây giờ không còn ai biết đến.
- Cho thấy, tâm này bị biến đổi theo thời gian. Do đó, nó không cố định, không chắc thật.
2. Theo không gian: Phân tích qua hai phương diện: Không chủ tể, do duyên hợp.
- Không chủ tể: Cái đầu tuy là quan trọng nhất của thân này, nhưng nếu tách rời riêng ra thì con người không thể sống. Tương tự, không có bất kỳ duy nhất một bộ phận nào là chủ tể (chính, chỉ có một) để làm nên thân này cả.
- Do duyên hợp: Phải do nhiều bộ phận, phải đầy đủ các yếu tố cần thiết hợp lại mới tạo thành thân này. Hơn nữa, chính ngay khi thân này đang tồn tại, các tế bào cũng đang thành hoại diệt sanh liên tục. Cho nên nó không bền chắc. Thân là thứ huyễn hóa, tạm bợ.
- Không chủ tể: Con người không ai chỉ có một niềm vui duy nhất mà không buồn. Các tâm trạng khác cũng tương tự. Vì thế, tâm này không có một cái nào là chính và duy nhất để làm nên cả. Cho nên nó không có chủ tể.
- Do duyên hợp: Ở Việt Nam thì đi bộ bên phải. Sang Anh quốc thì phải đi bộ bên trái. Sống theo điều kiện và môi trường của ngày xưa thì thích theo kiểu cổ xưa. Các cháu mới sanh ra trong thời hiện đại thì thích theo kiểu của hiện tại. Rõ ràng, tâm này không tự có, do điều kiện môi trường tác động mà hình thành. Khi đang có, nó cũng nương vào nhau mới có tính kế thừa và phát huy. Một ngày, trong một con người không biết đổi thay bao nhiêu tâm niệm, không thể tính đếm nổi. Cho thấy, tâm này do nhiều nhân duyên hợp lại mà thành. Đồng thời khi đã hình thành, nó cũng có lắm thứ. Vì không cố định nên không chắc thật. Do có lắm thứ cho nên không biết căn cứ vào đâu để xác định nó là chắc thật cả. Vì thế, tâm sanh diệt là huyễn hóa, không thật.
3. Theo hư không, chân không
- Bên ngoài, phải cần một khoảng không gian (hư không), thân này mới tồn tại.
- Bên trong thân thể, giữa các bộ phận cũng cần có những khoảng không.
- Giữa các tế bào kết dính vào nhau, cũng có những khoảng hư không thì mới gọi là các tế bào kết dính. Nếu không có khoảng không thì đã gọi là một tế bào.
Chính vì có khoảng hư không, không thể thành một khối chặt. Nhiều thứ từ lớn cho đến bé nhất như tế bào, đều phải có khoảng hư không, cho nên nó dao động liên tục, không bền chắc. Do đó thân này không thật, huyễn hóa, tạm bợ.
- Tâm niệm không phải một thứ, mà luôn có quá nhiều thứ, nhiều niệm.
- Niệm trước diệt, niệm sau sanh ra. Mỗi niệm, mỗi niệm nối nhau cho nên giữa chúng đều có khoảng hở của chân không nhất định. Nếu không có khoảng hở thì tất cả chỉ là một niệm muôn năm.
- Cho thấy, dù rằng vọng niệm đang có, nhưng vẫn đang trôi trên thể chân không. Thể ấy vẫn không mất, chỉ là chúng sanh đang sống trên nó mà bỏ sót.
- Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy: “Bồ-đề Niết-bàn từ vô thủy, vốn là bản thể thanh tịnh, chính nay là thức tinh nguyên minh của ông, hay sanh ra các duyên, nhưng khi theo duyên thì bỏ quên nó. Do các chúng sanh bỏ quên bản minh này, nên tuy trọn ngày dùng nó mà không tự biết, luống vào trong các nẻo.”[3]
- Qua đó cho thấy, các niệm của tâm sanh diệt luôn nối tiếp nhau sanh diệt, cho nên không thật.
- Bản thể chân không kia nơi chính mỗi người luôn hiện hữu, không mất. Vốn chỉ có một, thường hằng, bất biến, không sanh diệt, cho nên mới là cái chân thật.
- Ngay cái giả, sẵn cái chân thật, khéo nhận lại.
4. Không tịch
Thấu tột thân tâm này và các pháp đều huyễn hóa, không thật, ngay đó tất cả liền tự lìa, thể Chân không hiển hiện, vắng bặt, Tâm không – Cảnh tịch, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, tâm cảnh như như, tự tại giải thoát.
Đây là nói theo chiều hướng phân tích và tu tập có tướng dụng công. Không phải chân lý cứu cánh hoặc đầy đủ trọn vẹn đại diện cho tất cả.
Câu số 7: Như trên vừa nêu thì có nhiều thuyết để thấy biết các pháp là “Không”, huyễn hóa, không thật. Như vậy thì phải ứng dụng thuyết nào? Hay phải áp dụng tất cả?
Đáp:
Bản chất các pháp vốn dĩ là không, huyễn hóa, không thật. Nếu hành giả khéo thấy, khéo nhận thì liền thấy rõ lẽ thật như vậy, không cần bàn nói là phải thấy theo thuyết nào, hay cách thấy biếtnào cả.
Nếu chưa thể như thế thì cần biết nhiều cách nhìn để tùy nghi vận dụng cho thích hợp. Có người sẽ thấy hợp với thuyết này. Nhưng vị khác thì nhìn theo cách còn lại sẽ thấy dễ ứng dụng hơn. Ngay trên một con người, cũng tùy vào từng hoàn cảnh, tình huống khác nhau mà khéo vận dụng theo cách nhìn nào phù hợp, để dụng công thích hợp và tiến bộ.
Tùy vào căn cơ, trình độ và công phu của từng hành giả cao hay thấp, nhanh hay chậm mà mức độ thấy “Không” của Bát Nhã cũng có sâu hoặc cạn khác nhau.
Ở trên chỉ mới tạm nêu một vài cách nhìn tiêu biểu. Hành giả khéo léo ứng dụng để sống và tu tập, sẽ phát hiện ra nhiều cách nhìn nữa theo công phu của mỗi người. Cho đến khi chứng ngộ thì thấu suốt tất cả, rõ ràng như người sáng mắt nhìn thấy chỉ tay trong lòng bàn tay.
& DẪN CHỨNG
Một hôm, Thiền sư Văn Yển Vân Môn đưa cây gậy lên bảo chúng: “Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ-tát thì đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi không được động đến.”[4]
- Phàm phu gọi nó là thật: Lầm cho là thật có.
- Nhị thừa phân tích gọi nó là không: Phân tích theo thời gian, cây gậy biến hoại qua 4 tướng: Sanh – Trụ - Dị - Diệt (như đã phân tích ở câu số 3 và 4 ở trên).
- Duyên giác gọi nó là huyễn có: Phân tích theo không gian, cây gậy không có chủ tể, do duyên hợp, huyễn có (như đã phân tích ở câu số 3 và 4 ở trên).
- Bồ-tát thì đương thể tức không: Hàng Bồ-tát đã thuần thục, ngay thấy biết liền suốt thông, không cần qua quán chiếu hay soi thấy gì nữa.
- Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy: Tâm không – Cảnh tịch, thấy biết vượt năng và sở, có và không; cây gậy là cây gậy. Phật pháp là tất cả hiện thành.
- Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi không được động đến: Hòa thượng Tông chủ (Thiền sư Thích Thanh Từ) bình: “Mọi người chỉ biết, ‘Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến’ mà ít ai thấy được cây gậy của Thiền sư Vân Môn”.
Khi nghe nói “Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến”, nhiều người chỉ cứ lo chăn giữ tâm, thân đâu tâm đấy, không để thất niệm. Do vậy, vừa đang bận giữ tâm, vừa bận ngăn ngừa cảnh. Cả hai đã bận bịu rồi, lại thêm cây gậy Ngài Vân Môn nữa thì lại càng căng thẳng, rối rắm. Không những không thể thấy cây gậy Ngài Vân Môn mà đến cả tâm và cảnh cũng bị mờ mịt, làm sao tỏ sáng cây gậy Thiền sư? Vậy hiện nay, cây gậy của Ngài Vân Môn ở đâu?
Đâu phải đợi đến Ngài Vân Môn đưa gậy lên mới thấy? Đâu cần thấy cây gậy ấy mới là thấy được cây gậy của Thiền sư? Nếu tìm cây gậy hay bất kỳ thứ gì để thấy là thảy đều tìm thấy theo vật, quên mình, không thể thấy. Ngay đây sạch hết đi. Trong không còn tâm để giữ. Ngoài không có cảnh để trừ. Mặc tình thấy biết khắp, không dừng trụ trên bất cứ gì thì tất cả đã hiện bày, có gì thiếu thốn mà nhất thiết phải đi tìm lấy một vật gì đó để thấy! Nếu tìm cây gậy để thấy, sẽ bị cây gậy Ngài Vân Môn làm mù mắt mất rồi.
Đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến: Đất trời thênh thang, tất cả đang hiện thành. Mặc tình đi, mặc tình ngồi, không được khởi tâm động niệm “là gậy, là thấy”. Mặc tình biết khắp, nào có gì ngăn ngại! Cây gậy Ngài Vân Môn đâu chỉ là cây gậy của năm xưa bằng gỗ hay bằng trúc; mà hiện nay đây, tất cả đều không khác. Cây gậy vẫn còn!
Tuyệt thay cây gậy Vân Môn,
Vừa phân ta – gậy khó mong thấy rồi.
Thoạt đưa cây gậy lên thôi,
Vỡ tung trời đất. Chà! Thôi lắm lời.
Câu số 8: Ngộ không như thế nào mới qua hết thảy khổ ách?
Đáp:
- Phật nói rõ bản chất thật của nó là không thật để lìa chấp, không dính, tâm sẽ rỗng lặng.
- Tâm không thì cảnh tịch. Tâm cảnh như như, thấy biết vượt năng sở. Ngay đây, Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.
- Chỉ có nhân vô sanh mới đốt cháy được tất cả những gì sanh diệt.
- Thiền sư Nham Đầu Toàn Khoát dẫn lời Cổ đức: “Chẳng phải trần không xâm phạm ta. Nhưng khi ta vô tâm thì nó cháy.”[5]
- Dùng trí tuệ soi thấy các pháp là huyễn hóa, không thật... để lìa chấp, nhận tâm.
- Cuối cùng để đạt đến Tâm không – Cảnh tịch.
- Tâm cảnh như như, Thật tướng Bát-nhã hiện tiền.
- Mới đủ trí tuệ, định lực, vô biên lực, từ đó các khổ ách không còn chi phối, tất cả tự trừ, “tự qua khỏi hết thảy khổ ách”.
- Khi sẵn sàng, rảnh rang, ngồi lim dim, xem như đang tu tập.
- Vừa gặp duyên, vào công việc thì thức liền sanh khởi, khiến mình nhảy ra, lao vào sở duyên, rơi vào ngã và ngã sở, che khuất chân tâm, đánh mất công phu. Từ đó sanh nhiều chướng ngăn trong đời sống, hành xử và tu tập.
Câu số 9: Nói “Tướng không” Bát-nhã là đúng, hay “Tánh không” mới đúng?
Đáp:
- Tất cả đều do duyên hợp mà thành, nên huyễn hóa, không thật.
- Hành giả không theo tất cả, nhận lại tánh thể. Khi ấy, thấy biết, đến đi không động. Mặc cho vô thường sanh diệt, mặc tình đến và đi (tự tại).
- Lúc này, mỗi pháp ở ngôi vị của nó, thấy biết như thị, vượt Căn - Cảnh, Năng - Sở. Mới hay ra, Tức tướng – Tức tánh – Tánh tướng thường trụ, không còn cái thấy phân biệt, phân hai tánh và tướng riêng khác.
& DẪN CHỨNG
Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng,
Các pháp từ xưa nay,
Tướng thường tự vắng lặng.[6]
Có Thiền sư nghi, tánh vắng lặng mới phải, tướng thì sanh diệt đổi thay, tại sao lại nói vắng lặng? Cho đến khi mùa xuân về, nghe chim Hoàng Oanh hót trên cây, Sư chợt sáng ra, bèn kết hợp với hai câu trên để nói thêm hai câu nữa, thành bài kệ:
Chư pháp tùng bản lai,
Thường tự tịch diệt tướng,
Xuân đáo bách hoa khai,
Hoàng Oanh đề liễu thượng.[7]
Các pháp từ xưa nay,
Tướng thường tự vắng lặng.
Xuân về trăm hoa nở,
Hoàng Oanh hót trên cây.
- Đừng dính chấp hay dừng trụ trên bất cứ thứ gì.
- Lặng tâm lại mà cũng chẳng thấy có tâm lặng để an trụ hay gìn giữ.
- Bất ngờ hoát toang, muôn thứ sáng trong, rờ rỡ, thấy biết vượt căn và cảnh.
- Hay ra rất rõ, Phật pháp là tất cả đang bày hiện, hiện thành. Tánh và tướng vốn thường trụ, vượt cả không gian, thời gian.
- Mới hay, nói tánh hay tướng gì cũng phải, không can hệ gì.
Nhược nhơn dục liễu tri,
Tam thế nhất thiết Phật.
Ưng quán pháp giới tánh,
Nhất thiết duy tâm tạo.[8]
Nếu người muốn rõ biết,
Ba đời tất cả Phật.
Nên quán pháp giới tánh,
Tất cả do tâm tạo.
Tất cả các pháp đều do tâm tạo, nên không thật. Quán pháp giới tánh, nghĩa là xét tột cùng tự tánh tất cả các pháp (vạn vật trong pháp giới) đều huyễn hóa. Đồng nghĩa tánh pháp giới là rỗng tuếch, liền đó trả lại tánh thể rỗng lặng chính mình. Mới hay ra tâm ta cùng tánh pháp giới vốn đồng. Không phải có một tâm này đồng với một tánh pháp giới kia, mà khi Tâm không thì Cảnh tịch, tâm cảnh nhất như, tạm gọi là đồng. Quán pháp giới tánh như thế, liền đó liễu tri tam thế nhất thiết Phật. Tức là tánh thể chúng ta hiện tiền, khế hợp tâm Phật, suốt thông tâm thể ba đời tất cả chư Phật, nên nói liễu tri.
Kinh Kim Cang, đức Phật khẳng định: “Lìa tất cả tướng, tức chư Phật.”[9] Lúc này, sẽ hay ra: “Như Lai giả, vô sở tùng lai diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai.”[10] Phật nói tiếp: Lúc này, thấy: “Tất cả pháp đều là Phật pháp.”[11] Như thế, Tánh – Tướng không hai, cũng chẳng phải một. Tức tướng tức tánh, vô phân biệt.
Câu số 10: Vì sao Bát Nhã nói “Sáu căn, sáu trần, sáu thức (18 giới)” đều không?
Đáp:
- Khi 6 căn tiếp xúc 6 trần, phân biệt sanh ra 6 thức, gọi chung là 18 giới. Về hình tướng của 18 giới tuy đang có, nhưng không có chủ tể.Do đó, thể tánh (thực chất, bản chất) của nó vốn rỗng tuếch, không có gì chắc thật.
- Tuy Thể tánh không, nhưng theo duyên hợp thì tạm có.
- Thấu tột lẽ thật của việc “có và không” đó cũng huyễn hóa, không còn quan tâm ð Tâm ta trở nên rỗng lặng, cảnh cũng theo đó vắng bặt.
- Sáu căn, sáu trần và sáu thức ở trong ấy cũng vắng bặt, thanh tịnh nhưng sống động như thế. Đó là yếu chỉ Bát Nhã muốn nói 6 căn, 6 trần, 6 thức (18 giới) đều không.
& DẪN CHỨNG
Thiền sư Động Sơn Lương Giới thuở nhỏ theo thầy tụng Kinh Bát Nhã đến câu “vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý” (không có mắt tai mũi lưỡi thân ý), Sư chợt lấy tay sờ mặt hỏi:
- Con có mắt, tai, mũi, lưỡi… cớ sao trong kinh nói không? Ông thầy kinh lạ, bảo:
- Ta chẳng phải thầy của ngươi.
Ông giới thiệu Sư đến núi Ngũ Tiết làm lễ Thiền sư Linh Mặc xin xuất gia.
Sau này khi tỉnh ngộ, Sư thuật bài kệ:
Dã đại kỳ! Dã đại kỳ!
Vô tình thuyết pháp bất tư nghì
Nhược tương nhĩ thính chung nan hội
Nhãn xứ văn thanh phương đắc tri.
Nghĩa:
Cũng rất kỳ! Cũng rất kỳ!
Vô tình nói pháp chẳng nghĩ nghì
Nếu đem tai ngóng trọn khó hội
Phải lấy mắt nghe mới liễu tri.[12]
- Khi còn mê, ngỡ mắt tai là thật có.
- Lúc đã ngộ, mới thấy cây, cỏ, núi, sông ngày đêm đang thuyết pháp. Hay ra, nếu luận về Phật pháp thì tất cả đang hiện thành.
- Mới biết, nghe không chỉ có tai mà có thể dùng mắt. Thấy không chỉ có mắt mà khắp châu thân.
- Nhờ không còn thấy có 6 căn, 6 trần, 6 thức cho nên mới lưu thông, mới có khả năng không thể nghĩ bàn như thế. Vì vậy, Bát Nhã dạy chúng ta không có 18 giới là ý chỉ này.
Câu số 11: Vì sao Bát Nhã nói pháp Tứ đế, Thập nhị nhân duyên đức Phật dạy đều không?
Đáp:
- Pháp Phật dạy như tùy bệnh cho thuốc, không cố định. Ví dụ: Cõi Trời không dùng Pháp theo kiểu cõi người. Lục Tổ nói: “Phật nói tất cả pháp để trị tất cả tâm. Ta không tất cả tâm đâu cần dùng tất cả pháp.”[13]
- Pháp Phật dạy như ngón tay chỉ mặt trăng. Muốn thấy mặt trăng thật thì khéo nương ngón tay để nhìn thấy, chứ không phải chấp vào ngón tay cho là mặt trăng thật.
- Đến nhà rồi (ngộ Bát-nhã) thì không còn kẹt giữa đường (pháp phương tiện).
- Ngộ Bát-nhã rồi, không phải tránh hoặc chối bỏ Pháp của Phật dạy. Người đạt ngộ Thể tánh Bát-nhã thì thấy rõ, thấu suốt diệu pháp và khéo dùng được Pháp Phật để hướng dẫn người sau. Đồng thời, trong thể tánh ấy, hay nói ra muôn vàn điều Phật Pháp để độ chúng sanh mà không sai với yếu chỉ của chư Phật. Điển hình: Tổ Bồ-đề-đạt-ma sang Đông thổ dõng dạc tuyên bố "giáo ngoại biệt truyền", nhưng lại trao bốn quyển Kinh Lăng Già cho Nhị Tổ Huệ Khả để ấn chứng tâm pháp; Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn giảng Kinh Kim Cang và Lục Tổ Huệ Năng triệt ngộ tự tánh. Tại Việt Nam, Sơ Tổ Trần Nhân Tôngdù chứng ngộ thiền tủy, vẫn vận dụng kinh điển, diễn giải giáo lý sâu mầu để dẫn dắt học nhơn; và sau này Nhị Tổ Pháp Loa, Tam Tổ Huyền Quang cũng vậy, không khác...
- Thấy biết đúng đắn như vậy sẽ không chấp vào ngoan không để phạm phải sai lầm hủy báng Kinh Luận. Hơn như thế, hành giả không dừng kẹt trong có và không mà ngộ tột diệu chỉ Phật Tổ.
Câu số 12: Vì sao nói: “Không có vô minh cũng không có hết vô minh”?
Đáp:
- Đây là nói lên sự thật, bởi Thể tánh Bát-nhã vốn tự sẵn sáng như vậy. Tự nó vốn không có bóng dáng của vô minh.
- Kiểm chứng: ngồi thẳng, thông suốt, yên lắng, sáng ngời, không mê, bất ngờ trả lại tánh mình, sẽ hay ra tự tánh ấy đã sẵn sáng lâu lắm rồi, không có gì che mờ được thì làm gì có vô minh?
- Nếu nói theo lý thuyết thì ai cũng có tâm tánh vốn tự sẵn sáng như vậy, nhưng do vô minh nghiệp thức che đậy nên tạm ẩn khuất đi, khi nào hết vô minh thì tánh ấy bày ra. Đó là giải thích cho người còn mê biết để tu từ từ. Còn nói một cách chính xác hơn, khi nhận ra tâm đó thì không phải theo lộ trình như vậy. Bởi bản tánh sẵn sáng lâu lắm rồi, vô minh không đủ tư cách (không đủ sức, bởi chỉ là bóng dáng, không có thật) để che nó được. Vì chưa nhận ra tự tánh nên tạm có vô minh vậy thôi. Sáng ra tánh này rồi thì trong đó vốn không có vô minh.
- Thực tiễn cuộc sống: Hằng ngày, mỗi người phải đối diện với thiên hình vạn trạng: công việc, sinh hoạt, ăn uống, tình huống, hoàn cảnh... Nếu luôn sống ngay tự tánh thì mọi thứ đúng sai phải trái đều sáng biết một cách rõ ràng, nhưng vẫn thấy như huyễn, không quan trọng bất cứ gì; tâm vẫn trong lặng, vô tướng, không động, cảnh cũng thanh tịnh. Trên cơ sở đó, chúng ta khéo tùy thuận các duyên và thanh tịnh, hoan hỷ, chân tâm luôn hiện tiền, đồng thời mọi việc lại hoàn thành tốt, cả trên công việc và con người với nhau. Lúc này, sẽ không thấy có bóng dáng vô minh nào cả.
- Đổi lại, nếu thầm thầm bên trong thấy có một cái là “mình”, và khi cái mình này nhảy ra thì sẽ có quan điểm của mình, ý kiến của mình. Từ đó, bắt đầu phán xét con người và mọi thứ chung quanh qua quan điểm, ý kiến đó. Chính ngay khi ấy, chân tâm đã bị bỏ quên. Mà khi quên chân tâm thì mê mờ, vô minh có ra, từ đó hành xử, nói năng dễ bị sứt mẻ, tổn thương, đưa đến sai lầm, để rồi sau đó mới nhận ra, tức đã muộn, đã bất giác. Do vô minh che nên không cho chúng ta thấy ra kịp thời. Cho thấy, ngay khi quên tự tánh thì vô minh liền có ra chứ không phải có vô minh trước để che tự tánh. Cho nên Bát Nhã nói, không có vô minh, đây là nói thẳng, nói thật. Ở trong tự tánh thì mới thấy vô minh chưa bao giờ có.
- Phải nghiêm túc hạ thủ công phu. Nếu người còn mê thì phải liên tục, miên mật. Người nào khéo thì trở lại tánh mình sẽ tự thấy rõ. Nếu ham chữ nghĩa, ham hiểu biết, thì chỉ nói suông chứ bản chất thì không dính dáng gì.
Không có vô minh thì làm gì có hết vô minh. “Không có hết vô minh” tương đương câu “Năm nguyện pháp trần không khởi diệt” trong 12 nguyện của Khoa nghi sáu thời sám hối. Khi trở lại tự tánh thì trong đó không có vọng tưởng, pháp trần. Vọng tưởng, pháp trần đã không thì làm gì có khởi và diệt. Không khởi thì không có tướng diệt, gọi là không khởi diệt. Không có hết vô minh cũng tương tự như vậy. Ý nghĩa cụ thể:
- Có tu, có hàng phục, mới có hết vô minh. Nhưng trong ấy vốn sẵn sáng, không có vô minh, nên không nhờ tu mới được “minh” (sáng). Đã là sẵn sáng rồi, thì làm gì có hết vô minh. Cũng chẳng phải đợi hết vô minh nó mới hiện tiền, mà chỉ cần trở lại tự tánh thì vô minh tự vắng bóng. Nếu trở lại tự tánh mà vẫn còn thấy: nhờ hết vô minh cho nên mới nhận được tự tánh, thì vẫn còn cái dấu vết hết vô minh, tức tự tánh vẫn bị che bởi cái thấy này, chưa thể nhận rốt ráo. Qua các ý nghĩa trên cho chúng ta thấy, sự thực là không có hết vô minh.
- Không tu thì mê, phải chịu khổ. Cho nên, khi còn mê thì phải tu vậy thôi, không còn cách nào khác.
- Nhưng ngộ rồi mới thấy, việc tu trước đó không dính dáng gì sức sống tự tánh giác sáng này. Trong tự tánh ấy đã sẵn tất cả đức dụng, không phải nhờ tu để được cái mới.
- Không phải quét sạch bóng tối mới sáng, mà sáng ra thì hết tối. Việc sáng ra ấy không liên can gì đến bóng tối.
- Chẳng phải mơ trọn giấc mơ mới tỉnh dậy, mà thoạt tỉnh dậy thì hết mộng mơ. Sự tỉnh dậy cũng không phụ thuộc vào giấc mơ đã kết thúc trọn vẹn hay chưa trọn vẹn.
- Tương tự để hiểu, tánh ấy đã sẵn, không nhờ tu. Không phải quét sạch vô minh, không phải dẹp sạch vọng tưởng mới ngộ. Một là ngay đây khéo nhận thẳng tự tánh. Nếu chưa như thế thì khéo dụng công đúng pháp, tu trong vô tu, khế tự tánh, khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ, sẽ hay ra đầy ngạc nhiên, không ngờ trong tánh ấy vốn tự sẵn sáng như vậy từ lâu rồi. Cho nên, việc ngộ chân tâm chẳng liên quan gì vô minh. Khéo dụng tâm khế tự tánh, khi đắc lực, chín muồi thì sẽ có lúc như là bật công tắc, tánh tự bừng sáng ra, vô minh dứt bặt. Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn từng nói: “Nhất kích vong sở tri, Cánh bất giả tu trì.”[14]Việc này không nhờ tu, bởi vốn đã sẵn đủ lâu rồi.
- "Hết vô minh” là cái thầm thầm cho rằng “Có cái hết”.
- Do bất giác, chấp trước, nên có vô minh. Do tu tập, vô minh lặng, cho nên thấy có hết vô minh. Thấy có còn và có hết là thấy trong tạo tác sanh diệt; còn trong nhân duyên đối đãi, sanh diệt.
- Không trụ hoặc chấp vào chỗ thấy “Có cái hết vô minh” thật. Liền đó “Không có hết vô minh”.
- Tức là, thấy “còn” và “hết” là nhằm trên đối đãi sanh diệt để thấy, là đã quên bản tâm mà phan duyên. Cho nên, khi hạ thủ công phu, phải khéo không lập thêm “cái thấy hết vô minh”.Chỉ là lặng sáng, vô tướng, không mê thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.
- Trong ấy không mê mờ, vốn không có vô minh thì lấy gì để nói là hết hay còn! Do không có vô minh để hết vô minh, nên nói: “Không có hết vô minh”.
Câu số 13: Vì sao Bát Nhã nói: “Không có trí tuệ, cũng không có chứng đắc”?
Đáp:
- Hai con rồng giành hạt châu, con nào được?
- Con được (sở đắc) là mất.
- Con chẳng được thì thế nào?
- Sư bảo: Châu ở chỗ nào?[15]
Chủ yếu cần nhận ra: “Hiện nay, châu ở đâu?”, sẽ hay ra “mình chưa từng thiếu”; chứ không phải bàn đến được hay không được.
- Ba đời chư Phật không tri hữu: Vì toàn tri (thấy biết) là hữu (Phật tánh). Không còn có cái hữu nào khác ngoài sức sống của quý Ngài nữa để tri. Nếu còn thấy có cái hữu nào nữa để tri thì cái hữu ấy đã bị biết, ở bên ngoài mình, là còn mê, chưa phải chư Phật.
- Trâu trắng mèo hoang có tri hữu: Vì còn mê cho nên cần biết có “cái ấy” (Phật tánh) để tu tập, hướng về, mới có ngày thành Phật được.
- Ngộ đạo là tỉnh ra vật nơi chính mình, có gì để được?
- Được là được những thứ bên ngoài, không phải chân thật.
- Tổ Đề-đa-ca nói: “Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.”[17]
- Các bậc Tổ đức nói: “Từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà.”[18]
- Hoặc nói: “Sư cô (Cô Ni) vốn là người nữ. Lý Bạch nguyên lai thị tú tài.”[19]
Đều ngụ ý chỉ cho cái chân thật sẵn vậy nơi mình, không phải bên ngoài.
- Vì nếu còn có trí tuệ, có chứng đắc thì trí tuệ và sở đắc ấy đều là bên ngoài, không phải chân thật.
- Không hết tất cả, sạch hết tất cả thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, là đạt được trí tuệ cứu cánh (rốt ráo), là trí tuệ thật.
- Khéo thể nhận như thế, vô sở đắc, nhưng không phải không ngơ mà tất cả đang hiện tiền, mới chân thật đắc.
& Điển hình: Chân tâm là chân thật, bởi:
1) Lắng lại, sáng ra, nó ở nơi mình.
2) Buông hết rồi, chỉ mình nó, duy nhất chỉ có một.
3) Chân tâm không sanh diệt.
Qua 3 điều kiện trên, cho thấy: “Chân tâm là chân thật”. Không phải là cái gì đó “chứng đắc” bên ngoài mà được.
Câu số 14: Bát Nhã nói bao nhiêu pháp đều không?
Đáp:
1) Thân, Tâm sanh diệt: Xem giải thích ở câu số 6.
2) Sáu căn, sáu trần, sáu thức: Xem giải thích ở câu số 10.
3) Vô minh và hết vô minh; cho đến Già chết và hết già chết (12 nhân duyên): Xem giải thích ở câu số 11 và 12.
4) Tứ đế: Xem giải thích ở câu số 11.
5) Trí tuệ và Chứng đắc: Xem giải thích ở câu số 13.
* Tóm lại, tất cả đều không. Bởi vì:
- Một có thì tất cả có;
- Đã không thì tất thảy không.
* Câu hỏi vận dụng, củng cố 1:
Nếu chỉ nói 5 uẩn đều không đã đủ chưa? Nếu đã đủ tại sao ở đoạn sau đức Phật lại nói thêm 6 căn, 6 trần, 6 thức, vô minh, hết vô minh... đều không? (Xem thêm tại “Tiểu mục 3.1. Phương pháp cụ thể ứng dụng tu tập Bát Nhã là gì?” - Trong Phần 1 – Tổng Quan, Bài 3 – Trọng tâm Bát Nhã, Mục 3 – Đúc kết ý nghĩa Bát Nhã chỉ bày.)
Đáp:
- Khi 5 uẩn thực sự đã không, thì tất cả đều không. Các pháp bên ngoài đều từ con người. Nếu không có sự nhận thức của con người thì các pháp tự sinh tự diệt, không có giá trị gì để phải bàn là không hoặc có. Cho nên, chỉ cần 5 uẩn mà không thì các pháp đều không.
- Hơn nữa, một không thì tất cả không. Nếu thực sự đã không thì tất cả đều không. Nếu còn bất kỳ một pháp nào đó còn thấy có thì năm uẩn chưa thực sự không. Bởi hễ còn một pháp thì thức mê và ý thức phân biệt hãy còn. Vì vậy, khi thấy pháp này có và pháp kia không, đó thảy đều là thấy theo tướng có và không của sanh diệt, không phải Tự tánh không Bát Nhã muốn chỉ bày.
- Vào đầu đoạn Kinh, đọc vào “soi thấy 5 uẩn đều không”, nếu ngay đó ngộ thẳng Thực tướng Bát-nhã thì tất cả trong lặng, lúc này sẽ không cần nói đoạn sau, ngộ rồi sẽ tự biết.
- Không phải ai cũng được như vậy, cho nên đức Phật cũng từ bi triển khai thêm ở đoạn sau (tức phần thân bài) là 6 căn, 6 trần, 6 thức, vô minh, hết vô minh... đều không.
- Đây là nói thêm cho căn cơ chưa thể ngay đó nhận thẳng tự tánh, nhằm giúp quý vị có cơ sở để học và tu từ từ. Khi công phu thuần thục, đắc lực, cũng sẽ nhận ra.
* Câu hỏi vận dụng, củng cố 2:
Một có thì tất cả có, đã không thì tất cả không. Vậy khi thích viên kẹo là nó có, nhưng không thích sầu riêng thì đối với sầu riêng đâu dính dáng gì. Vậy là có với viên kẹo mà không có với sầu riêng. Vậy thì tại sao lại nói tất cả đều có? (Đối với viên kẹo đã có thì đối với trái sầu riêng cũng có như vậy, tại sao?)
Đáp:
- Có là do có niệm sanh khởi, chứ không phải bởi các pháp bên ngoài.Mọi thứ có thể tồn tại, nhưng không có sự nhận biết của con người thì chúng đều vô nghĩa, có cũng như không (tâm sanh pháp).
Do đó, khởi niệm thì liền có. Không niệm thì tất cả không.
- Thích và không thích là từ ý niệm, là do dính mắc. Có và không cũng từ ý niệm và sự dính mắc như thế.
- Không phải đợi thích mới có, mà không thích cũng là đang có.
Vì dính mắc chấp trước cho nên mới không thích. Cụ thể đối diện với thứ không thích thì thấy khó chịu, là nó đang có mới làm cho ta không ưa.
- Thích và không thích đã là hai cái có. Nhưng cảm thấy bình thường mà không sáng Phật tánh vẫn là cái có thứ ba. Bởi cái cảm thấy bình thường này còn hạn lượng, chưa giải quyết được gì nhiều. Cho nên nói về thọ có ba: Khổ thọ (không thích), Lạc thọ (ưa thích), và Xả thọ (không khổ, không lạc; bình thường nhưng chưa sáng tâm).
- Có hay không là do tâm ta còn dính hoặc không dính mắc. Nếu tâm còn dính mắc thì còn thức tình, còn mê, chưa qua khỏi ý thức phân biệt. Cho nên hễ có, thì tất cả sẽ có, hãy còn.
- Tình thức dứt bặt, tâm tánh tỏ rạng, dứt mê mờ thì hết chấp, tất cả đều không; tất cả tự vượt thoát, nhẹ thênh. Mới thấy, đã không, thì hết thảy đều không.
* DẪN CHỨNG
Tác hữu trần sa hữu,
Vi không nhất thiết không.
Hữu không như thủy nguyệt,
Vật trước hữu không không.
Có thì muôn sự có,
Không thì tất cả không.
Có, không trăng đáy nước,
Đừng mắc có cùng không.[20]
Thực sự đã không thì tất cả đều không. Vậy thì “ai hay thấy có và không”? Nếu không nhằm trong có và không để tìm hiểu, sẽ trả lại tánh mình, lúc này, tất cả hiện bày. Do đó, trong Chứng đạo ca, Thiền sư Huyền Giác nói:
Bất cầu chơn, bất đoạn vọng.
Liễu tri nhị pháp không vô tướng.
Vô tướng vô không vô bất không.
Tức thị Như Lai chân thật tướng.[21]
Hay sạch hai bên chơn vọng, tất cả đều không còn dấu vết. Thoát ra, vượt trên cả có và không, chơn và vọng... sạch hết tất cả mà đang sáng biết không động, linh thông; ngay đó “Như Lai chân thật tướng” hiện tiền. Đây chính là người sạch không tất cả mà hay biết rành rẽ tất cả có và không, tự tại vào có vào không, không ngăn ngại, bởi không thấy tướng ra vào.
Bát Nhã dẹp sạch, tất thảy đều không để hành giả sống dậy con người chân thật không tên tuổi này.
* Câu hỏi vận dụng, củng cố 3:
Thời Phật chưa có Smartphone nên Phật chưa nói Smartphone là giả. Bây giờ mới có. Vậy Smartphone là giả hay thật? Vì sao?
Đáp:
Bản chất thật của các pháp vốn là huyễn hóa, không thật. Phật ra đời nói lên sự thật, chứ không phải phán quyết hay quy định cho chúng là huyễn hóa. Do đó, dù Phật có nói hay không thì bản chất thật của các pháp vẫn là giả tạm.
Bản chất Smartphone cũng giả tạm như thế. Bởi vì:
- Nó là “Cái bị biết”, là bên ngoài mình, là pháp sanh diệt cho nên không thật.
- Nó không có chủ tể, do nhiều duyên hợp lại mà thành cho nên giả tạm.
- Ngàn xưa cho mãi đến ngàn sau, bất cứ gì thuộc về các tính chất trên đều thuộc sanh diệt, vô thường, huyễn hóa, giả tạm, không thật.
Câu số 15: Bát Nhã nói, trong tướng không (ngộ được Tánh không Bát-nhã) thì không có sắc, thọ, tưởng, hành, thức… không có vô minh cũng không có hết vô minh… như là diễn tả về cảnh giới đã ngộ nhập, nói cho người đã ngộ. Vậy Bát Nhã có nói cho người chưa ngộ như chúng ta hay không? Nếu thế thì chúng ta phải học và ứng dụng tu tập Bát Nhã như thế nào?
Đáp:
- Đây là lời Phật khai thị, chỉ thẳng đến tự tánh của tất cả chúng sanh. Tự tánh ấy ai cũng sẵn đủ, bình đẳng như nhau, cho nên không thể cho rằng Phật chỉ nói riêng cho người đã ngộ hay chưa ngộ.
- Người tu Phật, nếu khéo léo sẽ ngay lời này nhận thẳng tự tánh chính mình.
- Nếu chưa như thế thì nương lời Phật dạy để biết đích đến, hướng tiến tu tập, cũng sẽ đạt ngộ Tự tánh Bát-nhã.
Chúng ta chưa ngộ, có thể đang thấy tất cả còn thật có. Nhưng nhờ học Bát Nhã mà biết tất cả vốn không, bớt chấp trước, bớt dính mắc.
Thấy rõ “Tất cả đều không”, để hạ thủ công phu, khế hợp với “Tự tánh không Bát-nhã”. Công phu đắc lực, chín muồi, tâm tự bừng ngộ. Tức là:
- Đối với các pháp, thấy rõ: “Đang có vẫn là không”, tức vô tướng.
- Đối với việc hạ thủ công phu: “Dụng mà không có chỗ dụng”, là vô tác.
- Không dính mắc, chấp trước các pháp,
- Không kẹt trên tướng của công phu.
- Thấy rõ các pháp đều không.
- Dụng công trong vô tướng, vô tác.
Tức đã khế tự tánh vô sanh, mới có lúc bừng ngộ Tánh thể Bát-nhã.
- Thấu suốt Bát-nhã sẽ thấy tất cả đều không thật. Thân, tâm, vạn vật đã không thì không còn có gì quan trọng, nặng nề hoặc chi phối nữa. Đang có đó mà vẫn là không cho nên công phu rất nhẹ nhàng.
- Khi thấu suốt Bát-nhã và dụng công tu tập như thế sẽ không bị chấp và kẹt vào tướng của công phu, việc tu hành được suôn sẻ, tiến bộ, không rơi vào lối tẽ, nhầm đường.
- Phật nói rõ, chỉ rõ đích đến, nếu lanh lợi thì liền ngộ thẳng.
- Nếu chưa thì nhờ đó mà biết cách dụng công khế hợp với tự tánh, rồi sẽ ngộ nhập.
Câu số 16: Nếu tất cả đều không, vậy Bát-nhã thấy gì?
Đáp:
Nếu còn có một pháp thật để thấy, thì không thể thấy Bát-nhã. Cho nên nói: “Bát-nhã vô tri”.Nghĩa là Bát-nhã không có chỗ để thấy, không có chỗ để biết. Bởi vì Bát-nhã không thấy có một pháp thật, cho nên thấy biết mà không dính chấp hay dừng trụ trên bất cứ gì. Nếu tìm chỗ để thấy biết, tức thấy biết theo cảnh, đã phan duyên, mê tự tánh, không phải cái thấy biết bằng Trí tuệ Bát-nhã. (Xem thêm tại “Câu số 14: Bát Nhã nói bao nhiêu pháp đều không?”)
Câu số 17: Vậy thì Bát-nhã không thấy biết gì sao?
Đáp:
Tuy Bát-nhã không thấy biết theo duyên (Bát-nhã vô tri), nhưng không gì mà không thấy biết (Vô sở bất tri). Cụ thể: Bát-nhã có chỗ nào mà không thấy? Nghĩa là không gì là không thấy đến, không có chỗ nào mà không biết cả. Do đó nói: “Vô sở bất tri”. Tức là hay suốt qua tất cả, nghe nhìn liền thấy biết. Thấy biết khắp tất cả, không phải khởi phân biệt, không một vết mê.
- Ngay đây, buông xuống hết, không quan tâm gì bên ngoài, tức các pháp đều không. Trong tâm không suy nghĩ gì, tức trả lại bản tâm vốn không. Đây được gọi là “Bát-nhã vô tri”.
- Tuy vậy, tâm mình vẫn tự sáng biết tất cả, muốn không biết cũng không được. Đây được gọi là “Vô sở bất tri”.
Không thấy có một pháp thật, không tìm vật để thấy biết, tức không theo duyên hay tìm hiểu thấy biết về bất cứ gì; ngay khi ấy tâm tánh linh thông tự tại, không gì là không thấy biết. Đây là Bát-nhã thấy biết, sống bằng Bát-nhã để thấy biết.
Cho nên có câu đối:
- Như tức như thị chi trí, tánh tướng thường trụ, phi cổ lai kim.
- Trí tức liễu biệt chi tri, tri vô sở tri nhi vô sở bất tri.
Nghĩa là:
- Như, tức là trí thấy biết như thị, tánh tướng thường trụ, vượt cả quá khứ, hiện tại, vị lai.
- Trí, tức là sự liễu biệt rõ ràng, biết không chỗ biết, nhưng lại không chỗ nào là không biết.
Nếu thấy có một vật thật để nhìn thấy thì chỉ nhìn chăm vào vật ấy, không thể tự tại thấy biết khắp. Nếu cố thấy biết hết tất cả cho trùm khắp, thì cũng là khởi tâm và còn dừng trụ nhìn vào tất cả các pháp, sẽ bị căng. Nếu phớt lờ qua, như là không thấy gì thì gần với vô minh. Làm sao mới phải?
- Cần biết, Bát-nhã không nằm trong “thấy” và “không thấy”.
- Khi không dừng trụ vào bất cứ gì thì Thể tánh Bát-nhã hiện tiền, mặc tình biết khắp.
Câu số 18: Bát-nhã có thấy được Bát-nhã hay không?
Đáp:
- Sự thực Bát-nhã là Trí tánh Bát-nhã sẵn vậy nơi mỗi người.
- Chỉ là một sự hiển hiện sáng ngời, suốt thông tất cả.
- Nhận lại thì tự hay ra, Trí tánh Bát-nhã tự sáng ngời, biết khắp; không hạn cuộc, không trệ ngại nơi căn và cảnh nên không thuộc về thấy cùng chẳng thấy.
- Tương tự: Bát-nhã không thể tự thấy Bát-nhã.
- Nếu thấy thì đó là thấy được vật khác bên ngoài, không phải Bát-nhã chân thật.
- Điền địa này ý thức không có chỗ xen vào, không thể hiểu đến được. Phải dừng thức tưởng thì tất cả tự hiện bày.
Cho nên nói: Chư Phật cũng không thể thấy được.
- Chư Phật ba đời không tri hữu: Vì toàn tri (thấy biết) là hữu (biết mình có Phật tánh), không còn thấy có hữu khác để tri.
- Trâu trắng mèo hoang có tri hữu: Do bị che lấp cho nên phải tri hữu để hướng về, tu tập.
Câu số 19: Trong Chứng đạo ca, Thiền sư Huyền Giác nói: “Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ”[22] thì sao?
Tức là Niết-bàn chung lối cho người đạt (đạt giả). Vậy thì, không thấy Bát-nhã thì làm sao thấy có đạt giả? Ai đạt? Đạt gì?
Đáp:
Chứng Thực tướng Bát-nhã thì tự suốt thông nhau chứ không phải có tướng thấy.
*DẪN CHỨNG
- Sư đáp: Ở trước mắt.
- Sao con không thấy?
- Vì người có ngã nên không thấy.
- Con có ngã nên không thấy, Hòa thượng thấy chăng?
- Có người có ta nên rồi cũng chẳng thấy.
- Không con không ngài lại thấy chăng?
- Nếu không người không ta, còn ai cần thấy?[23]
Sự thực, không phải có mình (năng) thấy được một Bát-nhã là như thế nào đó (sở). Mà khi tất cả đều không, sạch hết tất cả, bặt cả kia đây thì Trí tánh Bát-nhã hiện tiền, mặc tình biết khắp. Không còn tìm tướng gì đó (dù là Bát-nhã) để biết nữa. Việc này nơi mỗi người ai cũng sẵn đủ, chỉ cần nhận lại. Ai về trong ấy thì tự thầm thâm cảm, suốt thông nhau, không khác.
“Nghe ông tích chứa cái hay đẹp của Bùi công và cái túc nhân của Dương Đại Niên mà hết mình ra sức hành trì. Lâu rồi ngày càng thăng tiến, ắt là cùng đường chung bước, trong mỗi việc hàng ngày tình cờ hợp nhau. Tuy chưa giáp mặt mà thật đã khế tâm. Há cho là xa xôi chưa từng biết nhau ư?”[24]
- Chính là nghĩa: Đạt giả đồng du Niết-bàn lộ.
- Nếu còn thấy người này thấy biết điều kia là đã mất mình theo cảnh, là mê, không thể suốt tột Bát-nhã.
- Không tịch vô tung, Phật Phật tùng lai vô khả tích.
- Huyền vi hữu diệu, nhân nhân đương xứ hữu hiện tiền.
Nghĩa là:
- Rỗng lặng chân không, chư Phật xưa nay không thể thấy.
- Sâu mầu diệu hữu, người người trước mắt thảy hiện tiền.
Câu số 20: Bát Nhã nói “không ngã, không nhơn”, vậy ai nói pháp, ai nghe pháp?
Đáp:
Nếu cho rằng “Không ngã, không nhơn” phải là “người nói pháp không được ngồi đây, người nghe pháp cũng phải giải tán”, thì chữ “Không” này cũng chỉ là đối lại với “Có” mà thôi, là đang rơi vào trong đối đãi “Có – Không”. Tức là đang nhằm trên tướng để thấy biết, chứ không phải ở trên Tánh thể Bát-nhã để tự sáng biết. Đồng nghĩa là đang phan duyên, mê tự tánh cho nên không suốt thông Bát-nhã, sẽ rối và không trả lời được.
Bặt hết các tướng, suốt qua các tướng, trả lại Tánh thể Bát-nhã hiện tiền, thì vẫn “đang có Thầy ngồi nói pháp, có thính chúng nghe pháp”, nhưng vì tánh này tự tại sáng biết khắp, vẫn vô tướng; không nhằm trên tướng để thấy biết, không phan duyên trên tướng, không chạy theo tướng, không trụ trên tướng, thì mọi tướng vẫn trong lặng sáng ngời, nói nghe tự tại không ngăn ngại nhau, mặc tình nói và nghe rõ ràng, đâu có ai ngăn cấm?
1) Các tướng duyên bên ngoài mình đang thấy: như cái bàn, cái ghế...
2) Tướng của vọng tưởng, pháp trần ở trong tâm.
1) Đang trong quá trình tu hành (tức bên trong vọng tưởng vẫn còn): Hòa thượng Tông chủ dạy: “Biết vọng không theo” có nghĩa là khi ở vào tâm lặng an giác sáng thì tâm ấy tự sáng biết, chứ không phải nhân cái vọng mà biết, không phải rượt đuổi, biết về, biết theo hay lao theo vọng tưởng để biết. Đó là suốt qua vọng tưởng và tự sáng biết.
Điển hình: Các tướng duyên bên ngoài, ví dụ như cái bàn, cái ghế... nếu nhìn theo và trụ vào nó thì sẽ chỉ ở “chỗ đó” mà không suốt thông tất cả. Ngược lại, nếu trả lại tánh mình, không kềm đè, thì tự nó biết hết mà không khởi phân biệt. Biết vọng cũng tương tự.
Cái tự sáng biết đó là Trí tánh Bát-nhã không động, nó tự biết khắp. Trong đó, vẫn tự tại nói và nghe bình thường, suốt thông, không ngăn ngại.
2) Đã ngộ (thức mê tự dứt, vọng tưởng vắng bóng): Các pháp, các tướng bên ngoài vẫn còn đó, nhưng mỗi mỗi rạng ngời, tất cả như được trong trẻo và sáng hơn, rõ ràng, rành mạch hơn cả ý thức phân biệt. Có điều lúc này các pháp không đến kịp, tự vượt thoát. Thoát mà không phải có cái thấp để thoát lên, lìa mà không phải có cái để lìa. Chỉ là rõ ràng như vậy nhưng không chạm đến được. Bởi, diệu lực tự tánh khiến tự vượt thoát như vậy. Lúc này, toàn thể là Trí tánh Bát-nhã hiện bày.
Trên một con người, chính khi đang nói mà cũng là đang nghe, đâu có ai khác vào đó để còn phân biệt mà bảo là “Ai nghe, ai nói?”. Cả đại chúng đây đang thấy nghe biết suốt, đâu có gì ngăn ngại.
Không động mà môi lưỡi vẫn khua. Người nói đã không mà vẫn đang nói. Người nghe không cần suy nghĩ, vắng bặt mà vẫn nghe biết rõ ràng. Năng (người nói pháp) đã không, sở (người nghe pháp) cũng tịch (vắng lặng), thì vốn tự nói, nghe, biết lưu thông, không ngăn ngại, suốt biết khắp tất cả rõ ràng như thế, chưa thiếu vắng bao giờ.
Chỉ như thế mà nói, như thế mà nghe, như thế mà tin hiểu. Chủ yếu, không khởi phân biệt thì tâm tự sáng biết khắp, tùy thời tự tại nói và nghe, không ngăn ngại.
& DẪN CHỨNG
- Con đường hướng thượng rốt ráo không lời. Nghe hỏi: “Một con đường hướng thượng, xưa nay làm sao nói?”, thì liền lo suy nghĩ, đang bối rối, liền bị ông vua Thiền sư quở: “Hét! Lửa này chưa từng đốt miệng”. Có miệng thì cứ nói, lửa chưa từng đốt, đâu có ngăn ngại bao giờ. Chỉ tại thức tình nghĩ tưởng làm ngăn trệ.
- Đừng thèm suy nghĩ thì ngay đó nói nín hay làm gì mà chẳng phải? Vừa tìm một lời, một nghĩa hay một hành động gì đó thì liền rơi vào tình thức phân biệt, không phải điền địa này, do đó làm gì cũng không phải.
- Tọa chủ không đáp được. Ông nói:Tuy tôi là người tục cũng tin biết thô thiển.
- Tọa chủ hỏi: Theo cư sĩ ý thế nào?
- Ông bèn giải bằng bài kệ:
Vô ngã phục vô nhân,
Tác ma hữu sơ thân,
Khuyến quân hưu lịch tọa,
Bất tợ trực cầu chân.
Kim Cang Bát-nhã tánh,
Ngoại tuyệt nhất tiêm trần,
Ngã văn tịnh tín thọ,
Tổng thị giả danh trần.
Nghĩa:
Không ngã lại không nhân,
Làm gì có thân sơ,
Khuyên ông đừng ngồi mãi,
Đâu bằng thẳng cầu chân.
Tánh Kim Cang Bát-nhã,
Chẳng dính một mảy trần,
Tôi nghe và tin nhận,
Thảy hiện bày giả danh.[26]
Tọa chủ nghe kệ rồi, vui vẻ khen ngợi: Chỗ cư sĩ đến phần nhiều các bậc lão túc đã qua.
Kiến văn giác tri vô chướng ngại
Thanh hương vị xúc thường tam-muội
Như điểu không trung chỉ ma phi
Vô thủ vô xả vô tắng ái
Nhược hội ứng xử bản vô tâm
Thủy đắc danh vi Quán Tự Tại.[27]
Thấy nghe hiểu biết không chướng ngại,
Tiếng mùi vị chạm thường tam-muội.
Như chim trong không mặc tình bay,
Không thủ không xả không thương ghét.
Nếu hội mỗi nơi vốn không tâm,
Mới được gọi là Quán Tự Tại.
Câu số 21: Khi suốt qua tất cả đều không, sẽ còn được gì?
Đáp:
- Thì Thực tướng Bát-nhã hiện tiền.
- Cho nên nói: Chư Phật trong ba đời cũng nương Bát-nhã ba-la-mật-đa được đạo quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
& DẪN CHỨNG
Có vị tăng hiệu Vô Căn ngồi thiền nhập định suốt luôn mấy ngày, chúng Tăng tưởng đã chết nên đem thiêu. Đến khi xuất định, không thấy thân đâu nữa nên mỗi tối hiện hồn về tìm thân. Cứ gọi: "Tôi đâu rồi?"
Nghe chuyện, Thiền sư Diệu Không dùng phương tiện để ông đi vào trong nước, vào trong lửa, vào trong đất, vào trong hư không. Vì không còn mang thân này nữa nên ông vào được hết. Cụ thể, Thiền sư Diệu Không để sẵn thau nước và nhóm bếp lửa. Khi ông Tăng hiện về gọi “Tôi đâu rồi?” Ngài bảo: “Trong thau nước.” Ông vào nhưng không tìm được, bèn nói: “Không có trong ấy.” Ngài bảo: “Thử tìm trong lửa.” Ông Tăng vào trong lửa cũng không tìm được, nói: “Tôi không có trong lửa.” Lần lượt Ngài bảo chui vào đất, vào hư không. Ông Tăng chui vào, cũng không tìm được và cũng nói như trên. Nhơn đó, Thiền sư Diệu Không bảo: “Ông hay vào được lửa nhưng lửa không cháy; vào nước, nước không nhấn chìm; vào đất, vào hư không cũng không ngăn ngại. Ông được tự tại như vậy mà không chịu, còn đi tìm cái thân hôi thối này làm gì?” Ông Tăng liền tỉnh, từ đó không còn về tìm thân xác nữa.
Thiền sư Đặng Ẩn Phong có lần lỡ thiêu chết một vị tăng. Vị tăng này mỗi tối hiện về đòi thân, Ngài gạn lại: - Ông đã chết rồi hay sao mà đòi thân?
Tăng đáp: - Đã chết.
Sư bảo: - Đã chết sao còn biết trả lời đây? Còn biết đến đây đòi thì đâu có chết!
Ông liền tỉnh, từ đó hết đến đòi thân nữa.
Cho thấy: Chết là thân tứ đại chết. Nếu không dừng trụ nơi thân tứ đại này mà khéo suốt qua, nhận lại tánh đang sáng biết, thì liền đó Thực tướng Bát-nhã hiện tiền, mới hay ra tánh này vốn sẵn vậy lâu lắm rồi, sống chết không đến kịp, vượt thoát tự tại.
[1] Quy trình đào tạo hành giả tu Phật hoặc tu Thiền: Trên trước, “Không Pháp Cũng Là Một Pháp”, tức thẳng đó liền ngộ, không qua phương tiện thứ lớp. Nếu chưa thể như thế, thì “Có Pháp Cũng Là Không Pháp”. Lúc này sẽ trải qua ba bước: (1) Lập thành: làm thành một người tu, từ pháp căn bản đến oai nghi tế hạnh; (2) Phá tướng: phá các dính chấp trú trước trên các tướng, kể cả tướng của phương pháp; (3) Chỉ tự tánh.
[2] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 4: Kinh bộ giảng giải 4, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2014, tr. 552.
[3] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 5: Kinh bộ giảng giải 5, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2017, tr. 64.
[4] 守堅編,《雲門匡眞禪師廣錄》卷中:「凡夫謂之實,二乘分析謂之無,緣覺謂之幻有,菩薩當體即空;衲僧見拄杖但喚作拄杖,行但行,坐但坐,總不得動著。」(CBETA, T47, no. 1988, p. 553b17-21)。 (Thủ Kiên biên soạn, Vân Môn Khuông Chân Thiền Sư Quảng Lục, quyển trung, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 47.)
[5]《巖頭全豁禪師語錄》卷 1:「不是塵勞不到我,只是我無心時,便燒卻它。」(CBETA, X69, no. 1379, p. 726c10-11)。 (Nham Đầu Toàn Khoát Thiền Sư Ngữ Lục, quyển 1, Vạn Tân Tu Tục Tạng Kinh, tập 69.)
[6] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 8: Kinh bộ giảng giải 8, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 122.
[7] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 8: Kinh bộ giảng giải 8, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 124.
[8] 實叉難陀譯,《大方廣佛華嚴經》卷19〈夜摩宮中偈讚品第20〉:「若人欲了知,三世一切佛,應觀法界性,一切唯心造。」(CBETA, T10, no. 279, p. 102a1-2)。 (Thật-xoa-nan-đà dịch, Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, quyển 19, Phẩm Tán Thán Trong Cung Trời Dạ Ma, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 10.)
[9] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 157.
[10] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 245.
[11] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 3: Kinh bộ giảng giải 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 184.
[12] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 32:Hành trạng Thiền sư 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 32.
[13] 宗寶編,《六祖大師法寶壇經》卷 1〈機緣品第七〉:「佛說一切法,為度一切心;我無一切心,何用一切法。」(CBETA, T48, no. 2008, p. 354a23-24)。 (Tông Bảo soạn, Lục Tổ Đại Sư Pháp Bảo Đàn Kinh, quyển 1, Phẩm "Cơ Duyên" thứ bảy.)
[14] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 32: Hành trạng Thiền sư 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 318.
[15] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 33: Hành trạng Thiền sư 4, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2019, tr. 214.
[16] 道原編,《景德傳燈錄》卷 28:「三世諸佛不知有,狸奴白牯卻知有。」(CBETA, T51, no. 2076, p. 444c10-11)。 (Đạo Nguyên soạn, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 28, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 51.)
[17] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 30: Hành trạng Thiền sư 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 84.
[18] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 32: Hành trạng Thiền sư 3, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 518.
[19] 道原編,《景德傳燈錄》卷 13:「尼師本是女人,李白元來是秀才。」(CBETA, T51, no. 2076, p. 306a17-18)。 (Đạo Nguyên soạn, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 13, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 51.)
[20] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 35, Hành trạng Thiền sư 6, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 199.
[21] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 16: Thiền tông Trung Hoa 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2015, tr. 522.
[22] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 16: Thiền tông Trung Hoa 1, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2015, tr. 481.
[23] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 31: Hành trạng Thiền sư 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 337-338.
[24] 印全解,《禪林寶訓筆說》卷 3:「聞公蓄裴公之美,楊大年之宿因……。」(CBETA, X75, no. 1483, p. 251c09-10)。 (Ấn Toàn giải, Thiền Lâm Bảo Huấn Bút Thuyết, quyển 3, Vạn Tân Tu Tục Tạng Kinh, tập 75.)
[25] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 25: Thiền tông Việt Nam 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2013, tr. 463.
[26] HT. Thích Thanh Từ, Thanh Từ toàn tập, tập 31: Hành trạng Thiền sư 2, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, 2018, tr. 362.
[27] 道原編,《景德傳燈錄》卷 5:「見聞覺知無障礙,聲香味觸常三昧;如鳥空中只麼飛,無取無捨無憎愛;若會應處本無心,始得名為觀自在。」(CBETA, T51, no. 2076, p. 242c21-24)。 (Đạo Nguyên soạn, Cảnh Đức Truyền Đăng Lục, quyển 5, Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 51.)
