
TT.Thích Tâm Hạnh
Đọc Bát Nhã, hiểu rõ lý Sắc – Không, bản chất cái hiểu đó cũng là sắc, và biết nó huyễn tức là không. Như vậy, hiểu sắc không, nhưng vẫn còn nằm trong ấy, cho nên mới tỏ được diệu nghĩa Bát Nhã.
Hơn cả hiểu, học nhơn tỏ rõ lý Sắc – Không của các pháp, nhẫn đến của tâm và pháp, thì rõ ràng vẫn chưa rời sắc không. Như thế, cũng chỉ mới thông diệu lý Bát Nhã.
Tỏ diệu nghĩa, thông diệu lý, nhưng chưa khéo nhận diệu chỉ, tức chưa ngộ Thể tánh hay Thực tướng Bát-nhã, cho nên thực tế là chưa có diệu lực để liền đó sạch hết tất cả khổ ách.
Học Bát Nhã, hiểu rõ năm uẩn đều không thì chính cái hiểu đó là thức, cũng là một uẩn (thức uẩn).
Học nhơn nhớ hết văn kinh, thấm nghiệm và hiểu sâu hơn. Đây là nhờ tổng hợp nghĩa lý Phật dạy, so sánh với sự chiêm nghiệm bản thân trong thực tế và đời sống tu học, có ra sự thấy hiểu sâu hơn, vẫn chưa rời tưởng uẩn.
Tu tập, thông suốt diệu lý Bát Nhã, cảm thấy an lạc; đây lại là thọ uẩn, do còn thấy có mình cảm nhận sự an lạc.
Tất cả đều còn nằm nguyên trong năm uẩn, vì vậy Thực tướng Bát-nhã bị che khuất, và rõ ràng là chưa có diệu lực để liền đó vụt thoát, qua sạch sành sanh tất cả khổ ách như văn kinh Phật dạy.
Tu học Bát Nhã, phải khéo trực nhận Thực tướng Bát-nhã, trong ấy có đủ định tuệ và vô biên lực, cho hành giả tự tại, các khổ không đến kịp, liền qua hết thảy khổ ách.
Phần 1 - Tổng quan, sẽ đề cập đến yếu chỉ này.
I. KHÁI QUÁT CHUNG – KHÉO NHẬN
1. KHÁI QUÁT CHUNG
1.1. Tựa kinh
Tựa kinh đầy đủ theo nguyên văn là: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh”. Trong đó Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa là chữ Phạn, còn Tâm Kinhlà chữ Hán. Trong kinh Phật thường dùng Nhân, Pháp hoặc Dụ để đặt tựa đề. Ở đây dùng pháp Bát Nhã Tâm Kinh để đặt tựa đề kinh.
Chữ Ma-ha nghĩa là rộng lớn, to lớn. Chữ Bát-nhã là trí tuệ chân thật. Trí này bất động, sáng ngời, diệu dụng bất khả tư nghì, khác với trí tuệ còn trong tương đối, tức còn động, có tướng, có giới hạn. Ba-la-mật-đa dịch là đáo bỉ ngạn, tức đến bờ bên kia, có nghĩa là cứu cánh viên mãn.Tâm Kinh là bài kinh ở ngay tâm (tại tâm) tức bài kinh vô tự. Nghĩa lý bên ngoài có chữ, còn kinh ở ngay tâm thì không có chữ gì, nhưng ứng cơ đối cảnh, nếu cần phương tiện thì trong đó tự lưu xuất vô vàn ngữ ngôn, diệu nghĩa... Đó cũng chính là cội nguồn của tất cả các nghĩa lý, là Tâm Kinh. Chữ Phạn và chữ Hán có cùng nội dung, cùng ý nghĩa như nhau và được sử dụng song song để nhấn mạnh Trí tuệ Bát-nhã cứu cánh, không nhầm lẫn với trí tuệ thế gian.
Tóm lại, Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinhlà Tâm kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn. Tựa đề nói về pháp. Đây là trí tuệ cứu cánh rộng lớn tột cùng, không còn gì rốt ráo hơn. Trí này vô tướng, lìa sanh diệt, vượt ngoài phân biệt đối đãi lớn nhỏ… Tức là không phải có một “cái lớn này”, lớn hơn “cái nhỏ kia”; mà tâm ấy vô tướng, tự bàng bạc, thênh thang trùm khắp. Tâm ấy không có tướng mạo nên không nằm trong lớn và nhỏ của các tướng trạng sanh diệt. Thực tế khi ngộ ra trí tuệ này, hành giả sẽ tự hay ra nó vốn đã thênh thang và tự vượt thoát như vậy, ngôn ngữ không thể diễn tả hết.
1.2. Trí tuệ cứu cánh rộng lớn là gì?
Trí tuệ cứu cánh rộng lớn là Trí tuệ Bát-nhã rốt ráo tột cùng (cứu cánh), thênh thang (rộng lớn). Trí tuệ này được lưu xuấttừ kinh tâm vô tự (không chữ, vô tướng, không tư lự), chứ không phải kinh văn tự bên ngoài. Văn tự bên ngoài được lưu xuất từ trong ấy, để thuật lại, nhằm chỉ bày để đưa người học trở về nhận lại Kinh Tâm.
Nói lưu xuất là tạm nói. Bởi kinh tâm vô tự cũng chính là Trí tuệ Bát-nhã. Nhưng khi chúng sanh còn mê thì trí này tạm bị che khuất. Nhờ văn kinh Bát Nhã có chữ kích phát, khiến cho hành giả bất ngờ nhận ra kinh không chữ, lúc này trí tuệ chân thật hiện tiền. Khi nói là kinh vô tự tức chỉ đề cập đến “Thể Vô Sanh” một cách tổng quát chung nhất. Và khi Trí tuệ Bát-nhã hiện tiền thì lúc này thể dụng toàn bày, sự lý dung thông, viên mãn, diệu dụng bất khả tư nghì.
Hơn nữa, Kinh Luận Phật Tổ chỉ dạy, cốt chỉ bày tâm mình, không phải bất cứ gì bên ngoài. Trong khi đó, đây lại là Tâm Kinh, là bản kinh chỉ thẳng Trí tuệ Bát-nhã rộng lớn, rốt ráo tận cùng, không gì hơn. Cho nên trí tuệ cứu cánh rộng lớn ở đây cũng chính là Thực tướng Bát-nhã, là trí tuệ chân thật nơi mỗi người, chứ không phải là trí tuệ còn trong hiểu biết sanh diệt có giới hạn.
Qua đó cho thấy, Kinh Bát Nhã chỉ thẳng đến trí tuệ rốt ráo tột cùng (cứu cánh rộng lớn), nghĩa là không còn một trí tuệ nào cao hơn. Như vậy, không thể nói Bát Nhã chỉ đạt “Tâm không” mà chưa ngộ tánh. Sự khác biệt giữa hai quan điểm này nếu có là do tùy vào căn cơ thực hành; hoặc là đã ngộ tột cùng trí tuệ cứu cánh; hoặc chỉ mới dừng ngay Tánh không; chứ “Tâm không” hay “Tánh không” không phải là yếu chỉ tột cùng của Tâm Kinh Bát Nhã. (Đến các bài sau sẽ nói rõ hơn.) Ngoài ra, lý “Sắc – Không” và các phần còn lại trong văn kinh… chỉ là phương tiện khai thị, hướng dẫn cho học nhơn nhận lại trí tuệ chân thật rốt ráo (tâm tánh) ấy.
Tóm lại: Qua tựa kinh, đức Phật đã chỉ ra Trí tuệ Bát-nhã nơi mỗi chúng ta. Việc của người học là phải khéo nhận lại mới qua tất cả khổ ách.
2.KHÉO NHẬN
2.1. Tổng quát
Một cách tổng quát, có thể thấy nội dung toàn bản kinh cô đọng lại trong câu: “Khi Bồ-tát Quán Tự Tại hành sâu Bát-nhã ba-la-mật-đa, Ngài soi thấy năm uẩn đều không, liền qua hết thảy khổ ách”. Đức Phật nêu Bồ-tát Quán Tự Tại để minh định kết quả: Bồ-tát đã tu như thế mà thành tựu đạo quả. Chúng ta tin tưởng, khéo tu đúng như thế, cũng thành tựu như Ngài, không khác.
Cho thấy, nếu nhận lại và hằng sống (hành sâu) bằng trí tuệ cứu cánh rộng lớn, sẽ tự thấy ra năm uẩn đều không, lặng trong, sáng ngời. Lúc này, các khổ ách không còn chi phối, không chạm đến được Thể tánh Bát-nhã cứu cánh rộng lớn đó, tức đã vượt qua. Đây là giới thiệu chung trọng tâm nội dung Bát Nhã Tâm Kinh, cũng là khẳng định tiêu chí phải đạt đến như vậy mới đúng diệu chỉ đức Phật đã nêu.
Hành giả phải hành sâu Bát-nhã hay tỏ lý Sắc – Không như thế nào, mà phải đảm bảo đạt đến tiêu chí như đức Phật đã đưa ra, là: “Qua tất cả khổ ách” (các khổ ách đều mất giá trị chi phối). Chứ không phải chỉ qua được một phần nào như là: phần này thì bình thường; việc kia lớn hơn không chịu nổi; hoặc còn một phần nào đó chưa qua được... Không phải như thế. Và đức Bồ-tát Quán Tự Tại (Quan Thế Âm) đã thực hành và đã thành tựu như thế. Đây là minh định cho tiêu chí đó, tức là nêu minh chứng để xác minh và khẳng định phải như thế mới đúng diệu lý đức Phật muốn chỉ bày trong đoạn văn kinh mở đề trên nói riêng và Tư Tưởng Hệ Bát Nhã nói chung.
Vậy thì, trí tuệ nào có đủ diệu lực để cho chúng ta nếu sống bằng nó thì tất cả khổ ách tự không? Chính là Trí tuệ Bát-nhã (Thực tướng Bát-nhã) nơi chính mỗi người. Mỗi hành giả phải khéo tự mình nhận lại.
2.2. Trình độ thể hội – Nhận lại Trí tuệ Bát-nhã như thế nào?
Đức Phật vừa thăng tòa, chưa nói gì, liền trực ngộ (đại ngộ). Ngay đó hay ra, Phật chưa xuất hiện, tánh ấy đã sẵn đầy đủ trọn vẹn lâu lắm rồi, chỉ khéo nhận lại.
Tức là vừa thấy liền ngộ, không qua phương tiện hoặc sự hiểu biết. Hành giả đại ngộ sẽ có diệu lực tự tại, bất khả tư nghì. Đến điền địa này sẽ không phải trải qua bước chuyển tiếp thể nhận Tánh không (Thuần tịnh), rồi sau đó mới ngộ tự tánh, mà là ngộ thẳng Thực tướng Bát-nhã.
Trực nhận, tức thẳng đó liền sực nhận, bỗng nhận lại, hay ra; chứ không qua hiểu biết nghĩa lý. Ở đây cũng có nhiều trình độ sâu hoặc cạn khác nhau, tùy theo căn cơ và công phu của mỗi hành giả. Tuy vậy, tất cả đều bất ngờ, chóng ngộ ra, cho nên cùng gọi chung là “Đốn ngộ”. Trong trường hợp này, gọi là “Trực nhận” mà không nói đốn ngộ, bởi nói theo kinh điển. Nói là trực nhận nhằm chỉ cho hành giả nhận thẳng cốt tủy đức Phật muốn chỉ là Tánh thể Bát-nhã chính mình, chứ không phải chỉ được hiển bày chân lý, hoặc thấy ra diệu lý, hoặc thông suốt nghĩa lý của kinh điển. Điền địa này cũng là đốn ngộ, nhưng lực dụng yếu hơn đại ngộ ở trên.
Cụ thể đối với Bát Nhã Tâm Kinh, đức Phật vừa nêu tựa đề kinh (Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh) hoặc nêu nội dung tổng quát (mở đề) như là gợi ý, liền hay ra, à ra, sực nhận.
Tức là thoạt nghe nói, liền trực nhận Thực tướng Bát-nhã nơi mình. Tuy không mạnh bằng trực ngộ (đại ngộ), nhưng cũng là bất ngờ chóng nhận thẳng (đốn ngộ), rồi sau đó khéo bảo nhậm, chứ không trải qua các bước chuyển tiếp của Thuần tịnh.
Vị này cũng có diệu lực đặc biệt. Tuy nhiên, một sự thực là hễ qua văn tự thì chỉ trực nhận (đốn ngộ) và lực dụng không thể mạnh như đại ngộ. Trừ khi văn tự như một nhân duyên cuối cùng, như chiếc lá của Ngài Linh Vân Chí Cần, tiếng sỏi trúng cây trúc của Ngài Hương Nghiêm Trí Nhàn... hành giả thoạt thấy nghe, bất ngờ đại ngộ, chứ không phải nhờ ý nghĩa hay diệu lý kích phát.
Nghe Phật nói rộng, phân tích rõ nghĩa lý, hành giả soi lại mình, khéo thầm nhận rồi sau đó bảo nhậm.
Đây là khéo học, khéo xoay lại mình để nhận ra diệu chỉ, khéo thầm nhận Thực tướng Bát-nhã nơi mình. Tuy không mạnh bằng hai bậc trên, nhưng vẫn có những giá trị độc đáo riêng, đã biết hướng đi chứ không còn mơ hồ, lan man như học nhơn còn trôi trên tướng của chữ nghĩa. Hành giả tin chắc, bảo nhậm, trải qua thời gian sẽ đạt đến viên thông, tròn sáng, rõ ràng.
Nghe nói toàn văn kinh, học hiểu, thông suốt nghĩa lý. Sau đó thực hành, hằng chiếu kiến năm uẩn, các pháp đều không… rồi mới nhận ra.
Cụ thể ở trình độ này, hành giả học văn kinh (Văn tự Bát-nhã), hằng chiếu kiến (hoặc Quán chiếu Bát-nhã) rồi tu tập từ từ, mới có lúc ngộ ra (Thực tướng Bát-nhã). Đây là tu tập theo thứ lớp: Văn tự Bát-nhã _ Quán chiếu Bát-nhã _ Thực tướng Bát-nhã.
Trình độ này là “khéo nhận ra để tu tập”. Tức là đối với hành giả nghe Phật giới thiệu tựa kinh, hoặc nội dung tổng quát (mở đề) mà chưa thể nhận ra thì lắng nghe văn kinh rồi khéo tu tập, hạ thủ công phu, nhận lại, bảo nhậm cho đến viên thông.
Không kể đến các hành giả khéo thầm nhận tự tánh lúc hạ thủ công phu, còn lại do chưa thể ngộ thẳng tự tánh mà phải gạn đục khơi trong cho nên con đường này sẽ đạt đến Tánh không (Thuần tịnh). Lúc này tuy là gần giống Thực tướng Bát-nhã rồi, nhưng chưa tột đến rốt ráo, bởi còn thấy có một cái tướng tịnh trước mặt, hoặc trùm khắp và thầm thầm gìn giữ. Chính nó làm trệ ngại việc bừng ngộ tự tánh. Phải phấn phát tiến thêm thì mới đạt ngộ Thực tướng Bát-nhã. Cần có cái thấy biết đúng đắn để hướng tiến mới không lầm lạc.
Thực tế, các điền địa này (hoặc là khéo nhận tâm tánh, hoặc là phải học, tu rồi mới nhận), do khởi đầu dụng tâm như thế nào thì sẽ đưa đến tâm chứng như thế ấy. Đây là do cách dụng công nên đưa đến kết quả tương ứng, chứ không phải do ai quy định.
2.3.Tóm lại
Chính là thể nhận Tánh thể Bát-nhã nơi mỗi người thì mới qua tất cả khổ ách; chứ không phải đơn thuần chỉ bày lý Sắc – Không. Bởi biết rõ lý Sắc –Không vẫnkhông qua khỏi tất cả khổ ách.
Tâm Phật bình đẳng, lời Phật dạy chỉ một. Người học lãnh hội nhanh hay chậm, ngộ nhập cạn hay sâu, diệu lực phát huy ngang nào... là tùy thuộc vào căn cơ, cách nhìn và đã ngộ hay chưa ngộ.
Và tùy vào sở ngộ, sở kiến, cách tiếp cận... mà hình thành nên các Pháp tu khác nhau, không đồng. Cũng tùy vào chỗ ngộ, cách nhận... mà từ đó có các Tôn chỉ, Pháp tu, các Tông phái Phật giáo (Giáo môn, Thiền tông các phái…).
Bài học rút ra ở đây là: Nhắm thẳng cốt tủy Phật Tổ khai thị, tức “Trực ngộ tâm tánh”, không dừng lại trên các phương tiện tạm thời hay sở kiến còn trong giới hạn, chưa phải tâm tánh trùm khắp.
3. CÂU HỎI VẬN DỤNG – CỦNG CỐ
Câu hỏi 1: Hành giả hành sâu Bát-nhã, cảm nhận: “Nhờ quán sát, thấy rõ lý Sắc – Không, nên đã hết khổ”. Qua diệu lý Bát Nhã, thấy gì?
Gợi ý:
“Nhờ quán sát, thấy rõ lý Sắc – Không”: Ở đây dùng phép quán cho nên chỉ dừng ngang ở mức “Hiển Bày Chân Lý” mà chưa ngộ tánh. Đây là thực hành theo phương cách của Thiền Đại Thừa. Cụ thể, Thiền sư Tông Mật nói: Người giác ngộ ngã pháp đều không, hiển bày chân lý mà tu, là Thiền Đại Thừa[1]. Do cách dụng công cho nên đưa đến kết quả tương ứng như vậy.
“Nên đã hết khổ”: Khi trình bày “Nhờ quán sát, thấy rõ lý Sắc – Không”, tức nhằm trên Sắc – Không để quán sát,chưa rời Sắc – Không, nên chưa nhận lại Tánh thể Bát-nhã. Do đó, chưa đủ diệu lực để qua hết thảy khổ ách như Bát Nhã khẳng định. Cho nên, chỉ có thể bớt khổ một phần nào đó.
Tóm lại: Nếu chưa có công phu đặc biệt thì đây chỉ là tạm bớt những khổ thông thường. Chưa đủ diệu lực của Trí tuệ Bát-nhã để qua được khổ lớn sanh tử.
Câu hỏi 2: Có người nói rằng: “Tôi thấy cuộc đời sắc sắc không không, có đó rồi không đó, nên không còn quan trọng gì. Chỉ sống bình thường, vì vậy không khổ.” Qua diệu chỉ Bát Nhã, chúng ta thấy ra gì?
Gợi ý:
Muốn qua hết thảy khổ ách thì phải ngộ Thực tướng Bát-nhã, chứ không phải chỉ nhận ra lý Sắc – Không. Bởi như thế, chưa đủ lực.
“Tôi thấy cuộc đời sắc sắc không không, có đó rồi không đó”: Tức là còn nhằm trên Sắc – Không để thấy biết, tu hành, đồng nghĩa còn phan duyên và cách tâm, chưa nhận ra Trí tuệ Bát-nhã. Và đối tượng để hành giả vô tình bị phan duyên lúc này là Sắc – Không, cho nên còn bị chi phối trong vi tế.
Cho rằng “Nên không còn quan trọng gì”: Thực ra, với công phu như trên thì chỉ tạm buông được những việc dễ buông. Nhưng trong tâm còn động, xao xuyến và còn cả việc buông xuống, nên chưa được diệu lạc của đại đạo.
“Chỉ sống bình thường”: Khi chưa ngộ Trí tuệ Bát-nhã thì chỉ là một trạng thái được coi là bình thường, chứ chưa phải tâm bình thường, vô tướng, thênh thang, lạc an của Thực tướng Bát-nhã.
“Vì vậy không khổ”: Theo các nghĩa lý vừa nêu trên, cho thấy cái vui này chưa phải an lạc diệu thường. Hơn nữa, khi thấy “không khổ, được vui” thì biết chưa rời đối đãi, còn nằm trong khổ vui, do đó vẫn còn bị khổ vui chi phối. Chưa phải sống bằng tâm thể tự tại, sáng ngời, vắng bóng đối đãi, khổ vui không đến kịp, ngập tràn lạc an của Trí tánh Bát-nhã.
Kết Luận
Do chưa khéo nhận thẳng Tánh thể Bát-nhã mà vẫn còn dừng trên Sắc – Không cho nên cách nhận này cần phải tiếp tục học cho thông và quyết chí dụng công cho thật mạnh mẽ, miên mật thì mới có lúc nhận lại Thực tướng Bát-nhã, mới thực sự được tự tại, dứt mọi khổ ách.
Câu hỏi 3: Kinh Lăng Già: “Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn.” [2]Qua diệu lý Bát Nhã, thấy gì?
Gợi ý:
“Dĩ tâm vi tông” tức “ Lấy tâm làm chủ, làm chính”.Là khẳng định nơi đạt đến: Chính là bản tâm chân thật chính mình. Tâm này cũng chính là “Tâm kinh trí tuệ cứu cánh rộng lớn" mà Bát Nhã đã nêu.
“Dĩ vô môn vi pháp môn” tức“ Lấy cửa không làm cửa pháp” để vào tâm ấy. Nghĩa là:Thấy các pháp huyễn hóa để thể nhập bản tâm. Cũng chính là:Tỏ suốt diệu lý Sắc – Không trong Bát Nhã để thể nhập thực tướng.
Tóm lại: Xem các pháp đều huyễn như Kinh Bát Nhã dạy, để thể nhập Thực tướng Bát-nhã, cũng chính là diệu chỉ đức Phật đã dạy trong Kinh Lăng Già tại câu kinh trên. Cho thấy, kinh Phật dạy suốt thông nhau, không khác. Kinh Lăng Già, Bát Nhã, đều nhất quán, suốt thông như vậy.
Câu hỏi 4: Một người nước ngoài, không được giải thích trước cho biết nội dung anh ta chuẩn bị nói là gì. Chỉ yêu cầu nói theo, lặp lại một cách máy móc: “Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh.” Người này có thể bừng ngộ Trí tánh Bát-nhã hay không?
Gợi ý:
Điểm chính yếu ở đây là “Hiểu nghĩa” và “Không hiểu nghĩa”. Hiểu mới ngộ; hay miễn là dụng công đúng pháp, đến khi chín muồi, gặp bất kỳ nhân duyên nào kích phát cũng được ngộ nhập, không cố định hay lựa chọn là duyên nào? (Câu Ma-ha Bát-nhã Ba-la-mật-đa Tâm Kinh cũng là một nhân duyên như vậy).
Chờ hiểu, khéo tu, mới ngộ, đó là tu tập Bát Nhã theo quy trình, là một trình độ chậm hơn so với hành giả thẳng đó ngộ ra. Chưa đợi Phật nói đã hay ra, là ngay thấy nghe, liền đại ngộ. Việc này rất bất ngờ, không dính dáng gì đến việc hiểu và không hiểu. Nếu vị nước ngoài trong trường hợp trên có căn cơ tu tập Thiền đã chín muồi thì vẫn có thể ngộ. “Chính như trong hội Phật, có ông Sa-di nhỏ lấy trái banh da đùa chọi trên đầu vị Tỳ-kheo già khiến ngài chứng Tứ quả”[3]. (Sơn Am Tạp Lục). Như vậy, đâu có liên quan gì đến việc “phải hiểu pháp gì đó mới ngộ!”. Ngài Vô Uẩn Thứ Trung (Sơn Am) khẳng định: “Mới tin việc này, chẳng phải ở trên lời nói. Đến như, gió động, bụi dấy, chim lượn, mây bay thảy đều là chỗ đẩy người vào, nhưng tự là ngay mặt lầm qua.”[4] Cũng như Ngài Linh Vân Chí Cần thấy hoa đào nở liền ngộ, hay Ngài Huyền Sa bảo: “Yến hót là bàn sâu thật tướng”[5] vậy.
[1] Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự (Nguồn thiền), Thiền sư Khuê Phong Tông Mật.
[2] 正受纂,《楞伽經纂》卷 1:「謂以佛語心為宗,以無門為法門。」(CBETA, X17, no. 326, p. 287a23-24)。 (Chính Thụ soạn, Lăng Già Kinh Toản, quyển 1, Vạn Tân Tu Tục Tạng Kinh, tập 17.)
[3] 〔元〕恕中無慍撰,《山菴雜錄》卷1:「正如佛會中有少年沙彌以皮毬戲擊老比丘頭,與他證四果事可以並按。」《卍新續藏經》第87冊,No. 1616,頁119c17-19。CBETA, X87, no. 1616, p. 119c20-21. ([Nguyên] Thứ Trung Vô Uẩn thuật, Sơn Am Tạp Lục, quyển 1, Vạn Tân Tu Tục Tạng Kinh, tập 87.)
[4] 〔元〕恕中無慍撰,《山菴雜錄》卷1:「信知此事不在言說上。至若風動塵起,雲行鳥飛,皆是控人入處,自是當面蹉過。」《卍新續藏經》第87冊,No. 1616,頁119c17-19。CBETA, X87, no. 1616, p. 119c20-21. ([Nguyên] Thứ Trung Vô Uẩn thuật, Sơn Am Tạp Lục, quyển 1, Vạn Tân Tu Tục Tạng Kinh, tập 87.]
[5] 〔明〕本延編,《玄沙師備禪師廣錄》卷上,收於《卍新纂續藏經》第 73 冊,No. 1533,頁 5a10-11 [CBETA, X73, no. 1533, p. 5a10-11]. ([Minh] Bản Diên biên soạn, Huyền Sa Sư Bị Thiền sư Quảng lục, quyển thượng, trong Vạn Tân Tu Tục Tạng Kinh, tập 73.)
