Thứ Bảy 14/2/2026 -- 27/12/2025 (Âm lịch) -- 2570 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Sách: Khéo Dụng Tâm - Ngay Thấy-Nghe-Biết Tự Tại Giải Thoát

 

NGAY THẤY NGHE BIẾT – TỰ TẠI GIẢI THOÁT

Kinh Lăng Nghiêm, mười phương đức Phật đồng thanh dạy: “Lành thay! A Nan, ông muốn biết câu sanh vô minh là cái đầu gút khiến ông luân chuyển sinh tử thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác. Ông muốn biết tánh vô thượng Bồ Đề khiến ông mau chứng an lạc giải thoát tịch tịnh diệu thường, cũng là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác”. Tức là sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) dính mắc sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là cội gốc sanh tử; sáu căn không dính mắc sáu trần thì ngay đó là Bồ đề, Niết-bàn.

Một cách thiết thực, cuộc sống mỗi người hằng ngày luôn tiếp xúc cảnh duyên, chúng ta thấy nghe hiểu biết. Nếu sáu căn trôi theo sáu trần thì mê lầm, dính mắc, chịu các thống khổ. Ngược lại, không theo sáu trần, làm chủ thân tâm, không để dính nhiễm thì không bị các trần chi phối, thoát mọi khổ đau. Chân lý là vậy. Nhưng trên thực tế, để làm chủ được mình, không bị sáu trần sai khiến vẫn là câu chuyện không dễ.

Muốn ứng dụng lời Phật dạy để tu tập ngay căn trần một cách có hiệu quả, hành giả cần nắm vững nguyên lý của sự dính mắc để dụng công, mới thoát được.

1.  CĂN NGUYÊN, LÝ DO DÍNH MẮC

Phật Tổ đã chứng ngộ viên mãn tự tánh, vẫn sống trong đời như chúng ta, nhưng các Ngài tự tại tiêu sái, không có gì trói được. Nơi mỗi chúng ta, khi nào sức giác sáng mạnh, sống bằng tánh thể chính mình, sẽ tự thấy mình đang vượt thoát tất cả một cách diệu kỳ. Cho thấy, sống bằng thể tánh, các pháp không đến kịp, vô giá trị, không còn đủ sức chi phối, không chạm đến được. Ngược lại thì bị dính mắc.

Nhìn cái gì đẹp liền thích, thấy điều không vừa lòng thì không ưa. Ưa và ghét, lấy và bỏ; đó là biểu hiện của sự dính mắc, đưa đến khổ đau. Sở dĩ dễ bị dính nhiễm như vậy là bởi không sáng tánh mình, rơi vào mê cho nên thấy nghe liền bị dính mắc, chấp trước. Như vậy, căn nguyên của việc nhiễm trước là do mê tự tánh, ngay đó thức mê có ra, chính cái thức mê này nó tự dính nhiễm. Phần thô, biểu hiện bên ngoài dễ nhận thấy là thích đẹp ghét xấu. Phần chìm sâu kín bên trong là căn thức tự hoạt động, tự dính nhiễm. Một ông chủ đánh con chó của mình nuôi thì nó sợ. Người khác đánh, chó sẽ cắn. Bởi hằng ngày chủ cho con chó ăn và chăm sóc cho nên nó bị lệ thuộc chủ của nó. Đó là điều hiển nhiên, cũng là biểu hiện của sự dính mắc. Tuy con chó không biết sự dính mắc là gì, nhưng khi mê thì thức mê tự nó dính nhiễm, không kịp hiểu biết.

Mỗi sáng ra quán Cà-phê, chúng ta thấy vui thích; phát hiện đây là sự dính mắc, liền buông. Hằng ngày vẫn hằng nhớ và luôn buông xả, nhưng hôm nào bận việc không ra quán thì trong lòng cảm thấy thiếu thiếu, tức sự dính mắc hãy còn nguyên, buông không sạch được. Khi gặp người khó ưa, liền buông xả, luôn luôn hằng nhớ buông xả như vậy. Nhưng khi đối mặt, cảm thấy không thoải mái, tức sự dính mắc còn nguyên. Chúng ta đã biết các pháp là huyễn, tự nhủ là phải buông, mình không hề muốn dính nhiễm, nhưng khi về nhà vẫn bị các bóng hình của pháp trần trồi lên, chi phối, như thế là đã dính nhiễm. Sự nhiễm trước này là do thức mê sâu kín bên trong tự nó dính mà không cho mình biết, cho đến khi có kết quả rồi chúng ta mới nhận ra. Do vậy, đôi khi chúng ta tu tập rất kỹ lưỡng, luôn tránh duyên, buông xả tất cả, nhưng kết quả lại khiêm nhường, ít thành công là vì cái thức mê này. Muốn tu tập có kết quả, cần phải nhận ra nguyên lý và khéo dụng tâm.

2.  KHÉO DỤNG CÔNG

Qua phần đã nêu trên, cho thấy, chúng ta thấy nghe hiểu biết mà bị nhiễm trước, dính mắc là bởi hai nguyên nhân chính:

-     Chiều sâu: Do căn thức mê nó tự nhiễm trước, dính mắc.

-     Trước mắt: Do chúng ta thấy biết phan duyên cho nên nhiễm trước.

Đức Phật nói với ông Uất-đầu-lam-phất: Thấy biết mà đợi có đối tượng mới thấy biết là còn phan duyên. Nếu còn phan duyên thì bị nhiễm trước, chưa thoát khỏi sanh tử[2]. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể thấy rõ việc dụng công tu hành.

a)   Phương pháp bổ trợ: Buông bớt, đừng dính chấp

Thực tế, hầu hết chúng ta dụng công bằng cách, hằng ngày tiếp duyên xúc cảnh, nên tránh duyên, hạn chế tiếp xúc, hằng buông xả, không để sáu căn dính mắc sáu trần. Đây là cách phổ thông để ngăn ngừa sự dính mắc, không buông thả cho pháp trần tràn bờ che khuất bản tâm. Cách này vẫn tốt, nhưng chưa thể dứt trừ tận gốc để đạt đến vô nhiễm. Cụ thể, hằng ngày tiếp xúc, hằng buông, không để dính mắc đúng sai, phải trái, đẹp xấu… Nhưng khi ngồi yên thì các cảnh hiện lại. Bị người làm não hại, chúng ta cũng buông, nhưng khi đối diện lại không thấy thoải mái. Như vậy, buông không thể hết, nó vẫn còn. Lý do là chưa dụng đến chỗ rốt ráo. Ví dụ, khi gặp một cảnh đẹp hay xấu, chúng ta sợ bị dính nhiễm, quay lại mình, xoay vào trong, tức là ngăn ngừa sáu căn không cho dính mắc sáu trần. Nhưng chính khi quay lại như vậy thì hình bóng đẹp xấu kia đã ở trong đầu mình rồi, buông bỏ đi đâu cho được! Có hai lý do: Một là khi chúng ta muốn buông bỏ, đồng nghĩa đã cho cảnh ấy là thật cho nên xa lánh, tức thì cảnh ấy có giá trị với mình và đã gieo vào trong đầu dù chúng ta đã buông. Thứ hai, dù cho thấy cảnh là huyễn hóa đi nữa thì khi buông xuống vẫn là có động tác trong tâm, là dụng công còn trong tạo tác, còn loạn động; cách này chưa rời thức mê cho nên không chiến thắng được cảnh duyên.

Không buông xả thì không tu được. Có buông xả cũng chỉ thành công trong giới hạn chừng mực. Do vậy, buông bỏ mới chỉ là phương cách để hạn chế sự dính mắc bên ngoài, là một phương pháp ngăn ngừa giúp người mới vào đạo tu tập để dần được thuần thục, trước khi chuyển qua công phu chuyên sâu hơn.

b)  Thực tế trước mắt: Thấy biết không phan duyên

Công phu này nhắm thẳng đến căn nguyên của sự dính mắc.

Như trên đã nói, sở dĩ chúng ta bị nhiễm trước các trần là do căn thức mê. Thực tế, khi tiếp xúc sáu trần mà quên chân tâm, tức đã mê và cái mê này tự nó dính nhiễm; cho đến khi sự dính nhiễm này đã thành kết quả, hiện hình, chúng ta mới nhận biết. Có nhiều câu chuyện thoạt nghe, con người không tin, nhưng khi được nghe người khác lặp đi lặp lại nhiều lần thì lại tin theo hồi nào không rõ. Có lắm việc vừa mới nghe qua, chúng ta thấy chưa có lý. Nhưng khi nghe nhiều người tin và thực hiện thì lại bị lôi cuốn và làm theo. Đây là kết quả của sự dính nhiễm mà căn nguyên bắt nguồn từ thức mê và nguyên nhân là do bỏ quên bản tâm, phan duyên, nghe nhìn theo âm thanh sắc tướng.

Vẫn tiếp xúc với mọi hoàn cảnh, vẫn thấy nghe hiểu biết tất cả, nhưng hằng giác sáng. Biết rõ các tướng là hư vọng, không biết về hoặc theo tiếng để nghe. Mình là mình, cảnh là cảnh, không phan duyên, không tìm vật để thấy, không thấy nghe theo cảnh. Luôn sáng lại tánh mình, hằng sống và thấy nghe như vậythì sẽ không bị nhiễm trước, mới thấy đúng chân lý, sự thật và không bị chi phối như trên.

Nhớ lại chân tâm thì mới trừ được gốc mê thâm căn cố đế nhiều đời, mới có lúc sáng ra tâm mình, tâm ấy vốn không dính nhiễm. Phải trở lại bản tâm thì tâm này tự vượt thoát căn trần, các trần mất giá trị chi phối. Cụ thể trong sinh hoạt hằng ngày, khi thấy nghe biết, nhớ giác sáng, sống trở lại bằng tự tánh giác sáng chính mình, không phan duyên, sẽ trừ được sự nhiễm trước. Đây là yếu huyệt. Hành giả có thể nhằm vào chỗ này để kiểm điểm công phu, sẽ có hiệu quả.

c)   Chiều sâu bên trong: Dứt trừ căn thức

Khi mê tự tánh, chúng sanh sẽ rơi vào mê và loạn động. Gốc mê sâu thẳm bên trong nó tự động dính nhiễm trần cảnh mà không cho mình biết. Do vậy, dù chúng ta không hề muốn nhiễm, nhưng cũng vẫn bị nhiễm trước một cách vô lý. Đây chính là cội nguồn của sự dính mắc. Cái thức mê này, thông thường không thấy gì, nhưng nó trùm phủ hết tâm can của người chưa ngộ. Chỉ những bậc đạt ngộ, qua khỏi rồi thì mới nhận ra. Còn trong đó, không tài nào biết được hình dạng và hành tung của nó như thế nào. Muốn dứt trừ hẳn sự nhiễm trước, dính mắc, phải dứt trừ tận cội gốc căn để này. Bằng cách nào?

Bằng cách nào đó để dứt trừ thì cái mê đã đi trước, không trừ kịp. Bởi khi muốn làm gì tức đã rời bản tâm cho nên chúng ta đã tự mê. Đồng thời, muốn làm gì đó tức đã rơi vào tạo tác, mà trước khi tạo tác là đã mê. Cho nên, muốn làm gì để trừ thức mê thì chỉ khiến cho thức này thêm mạnh, không trừ được.

Nếu vậy, không làm gì thì sao? Nếu không làm gì, thả trôi thì vô minh vọng tập thêm nhiều, thức mê này có cơ hội lớn mạnh, cũng không trừ được. Có làm cũng không được, không làm cũng không xong, vậy phải làm sao?

Không làm gì cả, chỉ là sáng lại tánh mình, thức mê tự dứt. Điển hình khi trấn tỉnh thì tâm không có một vết mê mờ. Cho thấy, khi tâm giác sáng thì thức mê vắng bóng, như mở đèn thì bóng tối tự tan chứ không do làm gì cả. Cứ thế hằng giác sáng, công phu đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng vỡ, thức mê dứt bặt thì các vọng tự vắng lặng. Lúc này thấy biết vượt năng sở, như như không động, hay ra vào các duyên mà vẫn tự vượt thoát, không thấy có tướng ra vào.

Tăng hỏi Thiền Sư Bá Trượng Hoài Hải: “Đối tất cả cảnh làm sao tâm được như cây đá?”. Thiền Sư Bá Trượng Hoài Hải đáp: “…Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó là đạo tràng”.

Khoan tìm biết trên cảnh mà giác sáng lại chính mình, liền đó chân tâm hiển hiện. Cảnh tự là cảnh, tâm tự là tâm, tâm cảnh không đến nhau mà hằng sáng biết rõ ràng. Ngay đó, tâm cảnh nhất như, chẳng phải là một thứ, cũng không phải phân hai hay khác nhau; chỉ là một tâm thể sáng ngời, tự vượt thoát.

d)  Tóm lại

Đợi đến khi đối cảnh mới dụng công, sẽ không đắc lực, không có lực tự chủ. Cần phải ‘Luôn sẵn một tánh giác sáng hiện tiền’, như thế là dụng công đúng nguyên lý, công phu sẽ tự tiến bộ, mạnh lên từng ngày thấy rõ. Khi công phu đắc lực, chín muồi, tâm bừng ngộ, sẽ tự siêu việt tất cả. Lúc này mới đủ diệu lực để tự tại, chuyển được cảnh duyên. Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy: “Nếu hay chuyển vật, tức đồng Như Lai”. Nghĩa gần hành giả có thể nhận ra là: Khi sống bằng tự tánh giác sáng một cách mạnh mẽ, các vật tự mất lực hút chi phối, tự mình hay dùng được các duyên một cách tự tại, tức đã chuyển vật, là nhờ tánh thể Như Lai nơi chính mình hiện tiền. Ý nghĩa sâu xa hơn, lúc này hành giả sống thẳng tự tánh giác sáng chính mình, tức đã tu hành, công hạnh tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, sẽ thành tựu Phật đạo.

3.  KẾT LUẬN

Bất thần bị con kiến chích sau gáy, chúng ta giựt mình. Là một chúng sanh bình thường thì đó chỉ là phản xạ tự nhiên. Nếu khởi phân biệt của học hiểu thì đó là thức chấp ngã khiến chúng sanh phản ứng như vậy. Nhưng hằng giác sáng tâm mình thì ngay biết, chân tâm đã sẵn đó. Tất cả chỉ nằm trong một nút mở là chúng ta đang ‘sáng lại tâm mình’ hay ‘thấy nghe hiểu biết theo hiện tượng, sự việc, trần cảnh’. Việc tu hành chính yếu là tại chỗ này chứ không phải nằm trên tướng hình hay quan niệm nào khác. Mỗi người phải tự sống dậy, nhận ra, bởi việc này không nằm trong ngôn ngữ hoặc hiểu biết.

Khi nghe nói hoặc trông thấy người khác vắt chanh rất chua, chúng ta liền chảy nước miếng. Nếu không chảy nước bọt thì thần kinh vị giác của người này bị hư. Nhưng nếu còn chảy nước bọt thì còn cội gốc dính nhiễm. Thế thì phải như thế nào mới hợp đạo? Chưa nhận ra chỗ này thì căn thức mê vẫn còn, nó sẽ tự dính nhiễm, chi phối. Nếu sáng ra thì cả hai tướng ‘chảy nước bọt’‘không chảy nước bọt’ toàn không dính dáng. Tất cả tự lặng trong, sáng ngời, thênh thang, đất trời không chứa được. Không phải để giải bài toán trên mà hành giả lúc này đã có trí tuệ, diệu dụng, đối từng căn cơ, đưa ra vô vàn bài toán thích hợp để đẩy người học trở lại chân trời uyên nguyên muôn thuở của chính họ. Chưa thể như thế thì chín chắn nỗ lực dụng công thêm.

 

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

3133984
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
356
4146
356
3105839
57132
133804
3133984