Thứ Bảy 14/2/2026 -- 27/12/2025 (Âm lịch) -- 2570 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Sách: Khéo Dụng Tâm

 THAY LỜI TỰA

Tất cả chúng sanh vốn sẵn tự tánh thanh tịnh, sáng ngời. Thế rồi một thuở thoạt quên, mê mờ tánh chân, rơi vào các vọng. Nhận thân tâm sanh diệt làm mình, chấp các pháp bên ngoài thật có, thức mê càng sâu, vọng động tạo tác, chịu các thống khổ.

 

 

Xem toàn bộ sách: Tải về

Việc tu tập đơn giản chỉ là chuyển vọng về chân, dừng các lăng xăng, trở lại tánh thể. Hoặc ngay đây nhận thẳng; hoặc chuyển vọng hướng chân, mới có lúc tâm này bừng ngộ. Ngoài ra, những phương cách còn lại chỉ là việc thực tập cho những hành giả chưa thuần.

Thẳng tắt ngắn gọn là vậy, nhưng do tâm mê, khiến chúng ta dễ mắc sai lầm khi hạ thủ. Hoặc dụng công rơi vào tạo tác, hoặc kềm đè cực đoan, hoặc gạn đục khơi trong rơi vào chỗ thuần tịnh, có khi do chấp sở đắc khiến công phu dừng lại giữa chừng… Và còn vô vàn khó khăn khác.

Để góp phần nhỏ trong kinh nghiệm tu tập, chúng tôi đã viết nhiều tập sách. Điển hình trong việc công phu là tập Dụng công tu thiền. Tài liệu này đã trình bày cặn kẽ về việc dụng tâm tu tập.Quyển Khéo dụng tâm sẽ tiếp tục nói thêm một cách khái lược vài điểm chính yếu trong công phu, hy vọng sẽ mang lại ít nhiều lợi lạc cho những pháp hữu hữu duyên đang cùng nhau trên đường trở về cố hương muôn thuở.

Thiền viện Trúc Lâm Bạch Mã

Mùa xuân Ất Tỵ – 2025

Kính ghi:

Thích Tâm Hạnh


                                                                                      

KHÉO THỰC HÀNH PHÁP SỔ TỨC

Tu thiền, cốt ngộ tự tánh, liền đó tự tại tiêu sái. Hành giả lanh lợi, ngay đây nhận thẳng, liền xong. Nếu chưa như thế, phải điều phục thân tâm, chín chắn dụng công, mới tiến đạo. Một trong những phương pháp căn bản cho người sơ cơ được Hòa thượng Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm hiện nay hướng dẫn Thiền sinh là sổ tức (đếm hơi thở). Đây là cách thức để điều thân, điều tức cho hành giả mới vào thực tập thiền, để được thuần thục trước khi đi vào công phu chính “Tri vọng” hoặc “Biết có chân tâm”. Cách thực hành và tầm quan trọng của pháp này, chúng tôi đã trình bày trong sách “Dụng công tu thiền”. Ở đây, chỉ nhắc thêm kinh nghiệm khi hạ thủ.

Trước khi ngồi thiền, hành giả cần dành thời gian thư giãn, buông thư. Bước chuẩn bị này tốt thì thân tâm sẽ thơ thới, nhẹ nhàng, giúp tọa thiền dễ an định. Khi ngồi thiền, nên thực hiện đúng các bước căn bản để vào thiền, công phu sẽ tiến bộ và không bị các chướng ngại khác[1].

Tiếp theo, không sổ tức liền mà buông thư hết tất cả, trả lại cái thấy, cái nghe, cảm giác một cách tự nhiên, tâm sẽ được khinh an. Đây là nền tảng để làm chủ vọng tưởng mà không cần cố gắng thêm gì. Tâm đã nhẹ nhàng, sâu lắng, thênh thang thì vọng tưởng tự mất giá trị chi phối. Lúc này, tất cả tự trở nên trong lặng. Dụng công đúng nguyên lý như thế, sẽ đắc lực. Khi được lặng sáng, lưu thông thì tâm mình tự sáng biết. Sức giác sáng này mạnh mẽ, sáng ngời, không động. Sống thẳng như thế, công phu rất nhàn mà tiến mạnh.

Buông thư một lúc như vậy thì hơi thở đã nhẹ và bắt đầu sổ tức (thực hành pháp đếm hơi thở). Khi đã nhẹ nhàng, khinh an, bắt đầu vào công phu, sẽ tự cảm nhận tiến bộ rõ ràng. Không phải chủ ý đếm hay điều khiển hơi thở ra vào, mà hơi thở tự động ra vào một cách tự nhiên và bắt đầu đếm.

Hơi thở tự động ra vào một cách nhẹ nhàng, thông suốt, không khiên cưỡng hay tạo tác gì là tốt. Nhưng nếu để cho tâm tự động đếm (có tướng đếm), thì đó là đã để cho thức mê có cơ hội tự vận hành, sẽ không ổn.Thời gian sau, nó tự làm cho mình loạn động, khó chỉnh sửa.

Lưu ý, khi đếm hơi thở, nếu không lặng an – giác biết, không sáng lại tâm mình (tức đã bất giác) thì tâm sẽ duyên theo hơi thở. Như thế, căn thức sẽ tự vận hành, khiến hành giả không sáng. Lúc này, hơi thở như một vọng tưởng và tâm đang vin theo vọng (hơi thở), cho nên căn thức tự phát sanh, đánh mất công phu mà không hề hay biết. Do đang bị mê, bỏ sót chân tâm cho nên toàn thể bị lẫn vào trong vọng. Khi căn thức hoạt động mạnh, nó sẽ tự đếm. Lúc này, việc đếm hơi thở đã được thức mê biến thành một sự vận hành trôi chảy tự nhiên. Hành giả vừa không giác sáng rõ ràng, vừa bị vọng tưởng vi tế cuốn vào sự trôi chảy êm đềm, liên tục và êm dịu của chúng. Nếu để lâu ngày, sẽ khó điều phục hơn lúc ban đầu mới công phu còn thô.

Kiểm nghiệm để nhận ra chỗ này là hành giả muốn ngồi thiền như thế để giết chết thời gian trôi qua cho nhanh, bớt nhọc nhằn, tê chân… và ngồi được nhiều thời gian hơn. Khi duyên theo vọng, căn thức sẽ xoa dịu các khó chịu. Nếu thế thì dù có ngồi được lâu cũng không phải là dụng công tu tập. Cần chấn chỉnh công phu cho đúng. Khéo giác sáng, ngay đó chân tâm hiện tiền. Không tương tục trôi theo căn thức mê mờ thì công phu mới đắc lực. Sống bằng tâm lặng sáng, không động, ngay đó sáng rỡ - Chân tâm hiện tiền. Lúc này hơi thở ra vào rõ ràng mồn một, nhưng không dính dáng gì bản tâm thênh thang giác sáng kia. Cứ thế, số đếm rõ ràng, nhưng không phân biệt, không động. Khéo dụng tâm như thế thì đang lúc sổ tức, cũng không khác đang sống bằng chân tâm hiển hiện rỡ ràng.

Hành giả đại ngộ, năm ấm tự thông suốt, rỗng thênh, không ngăn ngại nên không cần sổ tức. Còn lại, cần phải thực hành các pháp căn bản thì việc dụng công mới thuận duyên tu tiến. Sổ tức là một trong những phương pháp hết sức căn bản không thể bỏ qua. Có nhiều vị lanh lợi, mới vào tu tập đã khéo thầm nhận chân tâm. Dù vậy, do chưa phải đại ngộ và thời gian chưa đủ để ổn định thân này cho nên cần phải thực hành sổ tức để thuận cho việc tu tiến, về sau không bị trở ngại.


 

KINH NGHIỆM TRI VỌNG

 1. DẪN NHẬP

Là giả mà tưởng thật, chấp vọng làm chân, cho nên phải chịu các khổ não, đức Phật nói ‘nhận giặc làm con’. Biết rõ vọng chân, không nhầm lẫn, là đã có trí tuệ. Bỏ vọng về chân, là người tu đạo. Ngay khi vừa khởi, chuyển vọng niệm hướng bản tánh, liền thành vô tâm; là hành giả khéo dụng tâm. Tức vọng tức chân; chính là bậc có công phu đắc lực. Cho thấy, việc tu hành chủ yếu ‘Lìa vọng, trở lại tánh chân’. Nhận lại tánh chân, liền đó vọng tự dứt, cũng là một cách. Không theo vọng niệm, quay lại tánh chân; là một cách khác. Hành giả chưa thể một nhảy thẳng vào đất Như Lai thì cần phải biện rõ vọng chân để hạ thủ.

2.  XÁC ĐỊNH VỌNG VÀ TRI VỌNG

a)  Vọng là gì?

Chữ ‘Vọng’ nghĩa là giả, là chỉ cho tất cả những gì huyễn hóa, không thật; cụ thể không phải là tâm chân.

b)  Vọng gồm những gì?

Vọng gồm tất cả những gì không phải chân thật là mình; là tất cả những gì bên ngoài, bị chúng ta nhận biết. Điển hình như thân tâm sanh diệt và muôn sự muôn vật, kể cả có một cái tâm để nhận biết, hoặc sở chứng, sở đắc... Bởi những thứ này bị chúng ta nhận biết, là ngoài mình, còn biến đổi sanh diệt cho nên chúng là huyễn vọng, chưa phải chân.

c)   Tri vọng

Trong phạm vi bài này đề cập cụ thể đến việc hạ thủ công phu. Khi tọa thiền, ngồi yên lắng, không tiếp xúc cảnh duyên, thân đã bất động, hành giả biết rõ những niệm tưởng khởi lên trong đầu là huyễn hóa, không thật, không theo. Trong cuộc sống, trên mọi sinh hoạt, bên cạnh những niệm tưởng, chúng ta còn biết rõ thân, tâm sanh diệt, cảnh giới, vạn vật... đều huyễn hóa.

d)  Tại sao phải biết vọng?

Thiền sư Khuê Phong Tông Mật nói: “Vọng tưởng tuy không, nhưng theo nó thì thành sự”. Bản chất thật của các pháp hữu vi (thân tâm sanh diệt và muôn sự muôn vật) là huyễn hóa, không thật. Nếu không biết rõ sự thật này, sẽ bị các vọng chi phối, khiến mê lầm, rồi tạo nghiệp, phải đi trong sanh tử chịu các khổ đau. Cái huyễn mà tưởng là chân, nhận lầm cái huyễn vọng làm mình nó sẽ phá tan gia sản vô giá trong ngôi nhà chân thật chính mình, cho nên đức Phật nói: “Nhận giặc làm con”.

e)   Tại sao chỉ biết vọng tưởng?

Vọng là tất cả những gì thuộc về pháp hữu vi, còn bị vô thường biến đổi sanh diệt; nó rỗng tuếch, không thật. Nhưng tại sao khi nói đến pháp Tri vọng, phần đông nhiều người nghĩ ngay đến phương diện chỉ biết những niệm tưởng trong đầu (tâm sanh diệt) là vọng tưởng, không theo?

Nếu không có tâm niệm thì tất cả mọi thứ còn lại trở nên vô nghĩa, không có giá trị chi phối. Như thế, chúng ta cũng không cần phải tu hành. Mọi thứ huyễn vọng tuy nhiều, nhưng tất cả đều từ tâm niệm mà nhận biết hoặc tạo tác nên. Do đó, chỉ cần thấy rõ tâm niệm là huyễn hóa, không thật thì tất cả không còn giá trị chi phối. Và thấy mọi thứ bên ngoài là không thật cũng để dừng lại tâm niệm huyễn vọng này.

3.  TÍNH TIÊU BIỂU, ĐẶC TRƯNG CỦA PHÁP TRI VỌNG

Khi chưa chứng ngộ, chưa thành Tổ, thành Phật thì ai cũng có vọng tưởng (những niệm tưởng sanh khởi trong đầu). Nếu không khéo tu hành thì chúng ta đang sống trên vọng tưởng, bởi nó đang có, chưa lặng. Nhưng vọng tưởng là hiện thân của nhân duyên đau khổ. Trước mắt, niệm tưởng trong đầu càng nhiều, sẽ khiến cho con người trở nên căng thẳng, tạo thành áp lực, mệt mỏi. Sâu xa hơn, chính những niệm tưởng (ý nghiệp) này xui khiến chúng sanh tạo nghiệp, để rồi phải theo nghiệp đi trong sanh tử chịu các khổ đau. Do vậy, là người tu hành, ai cũng phải hàng phục cho bằng được các niệm tưởng này. Tu bất kỳ pháp môn nào cũng phải lắng cho được vọng tưởng mới được tự tại giải thoát. Dù cho nhận thẳng chân tâm thì các vọng tự lặng, cũng là một phương pháp hàng phục vọng tâm này. Đây chính là tính tiêu biểu, là đặc trưng của pháp Tri vọng (Biết vọng không theo).

4.  KHÁI QUÁT SƠ LƯỢC PHÁP TRI VỌNG

Tri vọng là biết vọng không theo. Cụ thể ở đây nói thẳng đến việc dụng tâm, thấy rõ tất cả những tâm niệm trong đầu khởi lên đều là bóng dáng của tiền trần, nó có nhiều thứ đắp đổi thay nhau khởi diệt liên tục, tất cả đều huyễn hóa, không thật, hành giả không theo. Để dễ dàng nhận hiểu, áp dụng vào công phu, Hòa thượng Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm hiện nay chia ra làm hai giai đoạn để hành giả dụng công; đó là ‘Tướng tri vọng’‘Tánh tri vọng’.

a)  Tướng tri vọng (khái quát)

Phương pháp này áp dụng cho những vị chưa thuần thục. Sau khi đã thực hành thành thục các phương pháp bổ trợ điều thân và điều tức, hành giả tiến lên pháp Tri vọng. Hành giả ngồi yên, tỉnh giác, nếu có niệm tưởng khởi lên thì biết nó là huyễn hóa, không theo.

b)  Tánh tri vọng (khái quát)

Lúc này công phu tu tập thiền đã thuần thục, hành giả ngồi yên, tâm lắng lặng, không khởi, nhưng tự sáng biết rõ ràng. Hành giả thấy rõ chơn và vọng đều từ một thể của tự tánh biến hiện. Như sóng và nước tuy khác, nhưng cả hai đều đồng một tánh ướt. Ngay khi đang còn vọng niệm, không biết theo hay biết về theo đuôi của nó, cũng không thèm nghĩ là để mặc kệ hay khởi thêm gì; chỉ là khéo thầm nhận thẳng tự tánh sáng biết vô tướng. Dù chưa ngộ đạo, nhưng khi lực dụng đủ lớn thì các vọng tự mất giá trị chi phối, tâm tự an lặng. Tất cả các vọng tuy còn, nhưng đều trở nên yếu ớt và lặng trong. Thân tâm lúc này an lạc đến diệu kỳ.

5. NHỮNG ĐẶC ĐIỂM LIÊN QUAN ĐẾN PHÁP TRI VỌNG

a)  Sự khác nhau giữa tướng tri vọng và tánh tri vọng

Tướng tri vọng và tánh tri vọng khác nhau ở những điểm căn bản nào?

Tướng tri vọng áp dụng cho những vị thực tập thiền chưa thuần thục. Ở giai đoạn này, hành giả đang còn trong quá trình ‘Thực tập hay thực hành pháp tu.

Tánh tri vọng là áp dụng cho hành giả thực tập thiền đã thuần thục. Lúc này, công phu chỉ là ‘Ngay vọng, khéo thầm nhận lại tánh chân. Ví như sóng và nước tuy là hai trạng thái khác nhau, nhưng tánh ướt của nó thì không hai, không khác.

Điểm khác nhau căn bản ở đây là hành giả thực hành thiền đã thuần thục và chưa thuần. Tức là nhấn mạnh đến việc công phu đã thuần thục hay chưa thuần thục, chứ không luận về thời gian là đã tu lâu hay mới vào tu.

b)   Vọng giác và trí tuệ

Biết vọng thế nào thì “Biết vọng vẫn còn là vọng giác”? Và biết vọng thế nào thì Ngay biết là trí tuệ?

Luận Tọa Thiền, Thiền sư Đại Giác nói: Thấy sắc, nghe thanh, ngửi hương, cảm xúc, biết pháp là đức dụng của sáu căn”. Cho thấy, ngay thấy nghe biết rõ ràng mà không phân biệt, đó là đức dụng của sáu căn hiển nhiên như vậy, chưa có vọng và chơn, kiến văn giác tri không có lỗi. Ngài nói tiếp: Nương cảnh giới này mà phân thiện ác, biện tà chánh là trí tuệ”. Như vậy, ngay khi thấy nghe hiểu biết, nhận rõ chân ngụy rành rẽ mà không cần phân biệt, đó là trí tuệ. Nhưng nếu: Do nhơn nơi đức dụng sáu căn mà lập nhân ngã, sinh thương ghét thảy đều là vọng kiến”. Tức là không còn ở nguyên thể ban đầu mà đã phân hai, có năng và sở, ta và người, từ đó bản ngã được lập nên, mới rơi vào vọng kiến và bắt đầu mê muội, sanh ra các lỗi lầm.

Tóm lại, ngay khi lặng sáng, không động; biết rõ vọng và chân rõ ràng mà không cần phân biệt thì đó là trí tuệ. Một cách cụ thể, nếu hành giả khởi biết để biết vọng thì cái biết có tướng trạng ấy là vọng giác. Ngược lại, nếu không khởi mà tự sáng biết thì ngay biết là trí tuệ. Nếu cho rằng, cái biết vọng tưởng vẫn còn là vọng giác, thì ai nhận biết đó là vọng giác, nếu không phải là chân tâm đang sẵn đó? Hãy buông luôn đi thì tánh này liền đó hiển hiện, bặt nghi ngờ.

Nếu vẫn còn bảo không phải là trí tuệ thì cái gì là trí tuệ chân thật, chỉ ra xem! Nếu còn có một thứ để đem ra chỉ được thì hãy buông luôn đi, đừng khởi, nhưng không mê thì ngay đó tâm tự sáng biết, chính là trí tuệ chân thật hiện tiền.

Khéo tu thì nhận thẳng. Chưa thể như thế thì hãy lột hết, buông sạch nhưng sáng rỡ, không một vết mê mờ, thẳng đó khéo nhận, liền xong.

c)    Đã biết là huyễn vọng, nhưng vì sao vẫn còn bị các vọng chi phối?

v Đứng ở đâu để biết vọng?

Khi nghe nói về vọng, chúng ta sẽ hiểu rõ vọng tưởng. Nhưng tâm hiểu biết ấy là có tướng, còn loạn động sanh diệt cho nên chính nó cũng là một loại vọng. Như vậy, dùng tâm vọng để hiểu về triết lý vọng thì quả thật chúng ta đang chìm trong nó, chưa thoát khỏi vọng, do đó còn bị các vọng chi phối. Nếu khéo lặng lại, tâm tự sáng biết mà không thèm khởi mới biết. Tâm lặng sáng ấy tự rõ biết các vọng, nhưng không động, không trôi vào vọng, mới thoát khỏi vọng, mới có diệu lực thắng được vọng tưởng, không bị các huyễn vọng chi phối.

v Do chưa đủ tỉnh lực

Cần biết rõ sự thật, khi tâm khinh an, tỉnh lực sẽ mạnh thì các vọng tự yên chứ không thể do làm gì đó để được. Nếu quan tâm vọng còn nhiều hay ít, còn bị chi phối hay không, hoặc làm gì đó để hết vọng thì tất cả chỉ vô nghĩa, vẫn còn bị vọng chi phối. Bởi tất cả những tâm niệm, việc làm và công phu như trên đều còn tạo tác, thuộc về vọng cho nên không thể thoát khỏi sự chi phối của chúng. Chỉ là khéo buông thư, bình thường để không tạo dấu vết trong tâm, nhưng giác sáng chứ không phải buông thả cho tâm lan man trôi nổi bồng bềnh; sẽ có lúc tâm tự khinh an (vui nhẹ, sâu lắng nhưng thênh thang). Sức giác sáng mạnh thì các vọng bỗng dưng tự nó mất giá trị chi phối. Lúc này, sự tu tập vô cùng nhẹ nhàng và an vui. Cho đến khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tâm tánh bừng ngộ thì vọng tự dứt bặt.

Nói thêm, khi mới vào tu, thực hành pháp sổ tức (đếm hơi thở), hành giả không nên can thiệp, không làm gì trên vọng tưởng mà chỉ nên khéo dụng công làm sao cho thân tâm được thông suốt, nhẹ nhàng, khinh an. Năng lực này sẽ khiến cho vọng tưởng vô hại, giúp chúng ta làm chủ dễ dàng. Bên cạnh công phu tọa thiền, hằng ngày hành giả khéo điều hòa trong các sinh hoạt, tập thể dục và ăn uống điều độ, bớt tán loạn, sẽ giúp cho việc tu tập dễ dàng khinh an.

6.  KHÁI QUÁT CĂN BẢN PHÁP HÀNH

Muốn đành lòng để dồn hết tâm lực vào việc hạ thủ công phu tu tập, hành giả cần nhận định cho thật rõ đường hướng tu hành để có tầm nhìn và xác định đích đến một cách rõ ràng, rành mạch.

a)  Đích đến

Một cách ngắn gọn, thẳng thắn, tất cả chúng ta tu Phật, mục đích để thành Phật. Ngoài ra, không thành bất cứ gì khác. Muốn thành tựu quả vị vô sanh Phật đạo, không thể từ nhân sanh diệt mà phải bắt đầu bằng nhân vô sanh. Tánh mình vốn tự không sanh diệt, chính là nhân vô sanh. Như vậy, cái đích gần mà hành giả phải chạm đến là ngộ tánh. Tiếp theo, bảo nhậm, sống thẳng tự tánh là tu hành. Cho đến khi công viên quả mãn, Phật đạo tự thành tựu.

b)  Lộ trình – Công phu

Con đường ngộ nhập tự tánh tựu trung có hai lối (nằm trong hai khả năng):

v Một là ngay đây trực ngộ, còn gọi là đốn ngộ.

Thiền sư đương cơ khai thị, hành giả thẳng đó trực ngộ tự tánh. Hoặc là hành giả thoạt nghe hay tình cờ đối diện một cơ duyên nào đó thoáng qua, bất ngờ ngộ nhập, không qua phương tiện thứ lớp.

v Hai là dụng công đúng pháp.

Nếu chưa thể thoạt nghe liền ngộ thì phải khéo léo dụng công đúng pháp. Cụ thể, chỉ là tự mình giác sáng, hướng tánh vô tướng giác sáng để tu tập, mới khế tự tánh. Khéo dụng tâm, vắng bặt mất hút dấu vết và không mê; có tướng hay không tướng đều không can thiệp, không khởi thêm gì. Theo thời gian, công phu thuần thục, sẽ đắc lực. Thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh mình tự bừng ngộ.

Đây là căn bản, là sự thực của việc tu hành, là chánh tu. Ngoài ra, tất cả đều là phương tiện tạm thời để dẫn dắt chúng ta trở về con đường chánh tu vừa nêu trên. Cần nhận biết rõ ràng để xác định: ‘Mình đang cần gì, phải làm gì’, để không bị lẫn lộn.

c)   Tóm lại

Trọng tâm dụng công tu tập như pháp gói gọn trong hai phạm trù: Không sai và phải đúng.

v Không sai

Hành giả khéo dụng công tu tập không để rơi vào các tướng. Điển hình như tướng của phương pháp, tướng dụng công, hoặc tướng của tâm (dấu vết của tâm hoặc sở đắc).

v Phải đúng

Bặt dấu vết – Mất hút tướng – Không mê thì tự tánh giác sáng hiện tiền, chứ không phải thấy có một tự tánh để thầm thầm chăn giữ nó. Sống như thế là đang dụng công tu hành, chứ không tìm một tướng tu hành nào khác. Dụng công như thế mới khế tự tánh vô sanh. Và có khế tự tánh thì mới có lúc tánh này tự bừng ngộ. Bởi ngộ chỉ là trả lại tánh mình chứ không phải ngộ ra một tánh thể như thế nào đó. Hành giả dụng công đúng pháp, khi thời tiết nhân duyên chín muồi, bất ngờ tánh này bừng vỡ, hiện bày ra, gọi là ngộ tánh.

Kinh Kim Cang, Phật dạy: Không rời tự tánh, tu các công đức lành, nhưng không rơi vào tướng thì sẽ thành Phật.

Đã ngộ thì sống bằng tự tánh ấy, các đức dụng tự thành tựu. Nếu hành giả chưa ngộ thì dụng công tu thiền như vừa nêu trên. Luôn trở lại tự tánh giác sáng, tức không rời tự tánh. Khéo tùy thuận các pháp, tùy duyên tu tập các công đức lành. Nhưng sống bằng tự tánh, không phân biệt ta người và việc làm, vượt thoát hai bên, sẽ vô tướng, tức không rơi vào các tướng. Dụng công như thế, đức Phật khẳng định chắc chắn sẽ thành tựu Phật đạo.

7.  KHÉO DỤNG CÔNG

Khi tri vọng, cần thấy rõ Mình đang tự sáng biết,chứ không phải biết về hay biết theo vọng tưởng’. Do đó, hành giả không can thiệp trên vọng. Ngay vọng, hành giả chỉ là tự giác sáng – Không theo, không làm thêm gì trên nó. Cụ thể, tùy vào căn cơ và trình độ mà có ba khả năng công phu thể nhận tự tánh:

Một là: Khéo ngay các vọng, nhận thẳng tự tánh giác sáng không nằm trong hai tướng động và tịnh thì các vọng tự trừ.

Hai là: Ngay khi đang vọng, khéo nhận ngay tánh lặng trong – Không can thiệp trên vọng.

Ba là: Khéo điều hòa thân tâm lặng – an – suốt thông, sẽ giúp hành giả làm chủ vọng tưởng. Cụ thể, vọng tưởng tự nhẹ nhàng, không chi phối gì.

Cách một là thẳng tắt, không qua các bước chuyển tiếp của tâm thanh tịnh thuần thanh tuyệt điểm, thẳng tiến, an toàn. Hai cách còn lại, hành giả sẽ phải đạt đến chỗ thuần tịnh rồi mới ngộ tánh. Do đó, cần phải khéo nhận biết để tiến đến rốt ráo, không dừng giữa đường được ít cho là đủ. Đây không phải lý thuyết mà là sự thật trong tâm, không phải do ai đặt định mà do sự khải phát dụng tâm ban đầu. Tu theo hướng nào, tâm hành giả tự thành tựu theo hướng tương ứng. Tùy vào căn cơ, tùy theo khả năng của từng người để khéo dụng tâm theo một trong ba khả năng trên, công phu sẽ đắc lực.

8. KẾT LUẬN

Tất cả chúng ta ai cũng vốn sẵn tánh chân, do thoáng bất giác nên rơi vào vọng động sanh diệt, tạo nghiệp, thọ sanh, chịu các thống khổ. Khi vào thân người, nhận thân tâm sanh diệt làm mình, cho các pháp là thật do đó bị trói buộc, chi phối, căng thẳng, khổ đau. Nguồn cơn bởi do mê lầm nhận vọng làm chân. Nếu biết bản chất muôn sự muôn vật vốn dĩ không có gì thật, liền đó trở lại tánh chân thì tất cả trở nên trong lặng, tự vượt thoát. Dù đã trót lỡ muôn kiếp mê, nhưng khéo ngay đây nhận lại tự tánh giác sáng thì tức khắc trở lại cội nguồn uyên nguyên sáng rỡ, tiêu sái tự tại. ‘Tri vọng nhận chơn’, xưa nay vẫn là con đường thiết thực cho những ai muốn tìm về cố hương muôn thuở chính mình.

 


 

TRI VỌNG

CÓ PHẢI NHƯ VỚT BỌT LẤY NƯỚC ?

 1.   DẪN NHẬP

Tất cả chúng sanh ai cũng có những niệm tưởng trong đầu, gọi là vọng tưởng. Đang có và lúc nào cũng đang đối diện với nhiều vọng tưởng, nếu không nhận biết để hàng phục sẽ bị vọng tưởng chi phối, khiến căng thẳng, trí tuệ mờ tối, đồng thời tạo nghiệp phải vào sanh tử chịu các khổ đau. Dù là hành giả có công phu, nhưng không khéo dụng công thì tuy là tu hành, nhưng vẫn chưa thể rời vọng để tu, khiến nhọc nhằn, kết quả không được như nguyện.

Thực chất tu hành tựu trung chỉ nằm vỏn vẹn một trong hai việc chính: Hàng phục vọng tưởng phiền não, hoặc giác ngộ bản tâm (đốn ngộ). Hành giả ngay đây đốn ngộ bản tâm thì vọng tưởng phiền não tự dứt bặt. Chưa ngộ thì phải đối diện với vọng tưởng, phải hàng phục nó.

Hơn nữa, chúng sanh do nghiệp dẫn vào luân hồi chịu các khổ đau. Người tu muốn thoát ly sanh tử, phải biết dừng và chuyển nghiệp. Muốn dừng, chuyển nghiệp, hàng phục vọng tưởng phiền não thì không tìm đâu xa, chỉ ngay hiện tướng của vọng tưởng tạo nghiệp để hàng phục, dừng và chuyển.

Cho thấy, vọng tưởng ai cũng có, là biểu trưng cho tất cả chúng sanh, ai tu cũng phải hàng phục vọng tưởng. Do đó, một trong những phương pháp hành trì mà Hòa thượng Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm hướng dẫn Thiền sinh ứng dụng công phu là Tri Vọng.

2.   TRI VỌNG CÓ PHẢI NHƯ VỚT BỌT LẤY NƯỚC?

a)   Thế nào là Tri vọng?

Theo lời Hòa thượng Tông chủ dạy, chúng ta có thể hiểu một cách vắn tắt về Pháp Tri Vọng:

Khi tọa thiền, hành giả ngồi yên, tỉnh giác. Nếu có niệm khởi thì biết nó là huyễn hóa, không theo chứ không đuổi dẹp gì cả. Khi thuần thục, tâm lắng lặng, không khởi nhưng tự sáng biết rõ ràng. Lúc này hành giả sẽ thấy rõ chơn và vọng đều từ một thể của tự tánh, như sóng và nước tuy khác, nhưng đồng một tánh ướt.

Qua lời ngài dạy, chúng ta có thể nhận ra các điểm nổi bật căn bản để áp dụng pháp Tri vọng vào công phu tu tập như sau:

-   Không đối trị

Không phải chỉ, cũng không phải quán. Bởi chỉ là có làm gì đó cho vọng tưởng dừng lại; quán là quán chiếu để vọng tan biến hết đi. Hai cách này chỉ là phương pháp bổ trợ cho những hành giả còn nặng về một tập nghiệp nào đó, cần áp dụng để đối trị. Do vậy, chưa khế với yếu diệu trong lời dạy về pháp Tri vọng, bởi cả hai còn can thiệp trên vọng. Hành giả đã sẵn sàng cho việc tu tập thiền, dụng công pháp Tri vọng thì không dụng tâm trong tạo tác như vậy, sẽ không khế hợp tự tánh vô sanh, khó tiến đạo.

-   Không tạo tác

Không cần khởi “cái biết” để biết. Không biết về, biết theo như đếm vọng tưởng. Không cần dứt trừ vọng tưởng.

-   Chỉ dùng trí tuệ thấu suốt vọng niệm không thật.

-   Không theo vọng tưởng.

-   Sống bằng bản tâm chân thật lặng mà sáng biết.

Thực hành được như vậy là đang dụng công pháp Tri vọng một cách đúng đắn, không sai lệch. Và như thế, pháp Tri vọng không phải trừ dẹp vọng tưởng. Chỉ là ngay đây khéo thầm nhận tự tánh; hoặc là hướng tự tánh để hàng phục vọng tưởng, nhận lại tánh chân.

b)  Quyết nghi

Có suy nghĩ cho rằng, pháp Tri vọng (Biết vọng không theo) giống như vớt bọt để lấy nước. Bọt do nước biến hiện, nếu vớt hết bọt thì lấy nước ở đâu?

Như phần khái quát đã nêu ở trên, pháp Tri vọng không phải dẹp trừ hay xua đuổi vọng tưởng. Do đó, hành giả thực hành pháp này một cách đúng đắn, sẽ không giống với việc vớt bọt lấy nước.

c)   Nên học hiểu thông suốt để dụng công tu tập

Chưa học kỹ, chưa dụng công, chắc chắn sẽ chưa có kinh nghiệm, chưa cảm nhận được kết quả. Như vậy có nghĩa là chưa suốt thông pháp Tri vọng. Bởi dù có học hiểu mà chưa có thời gian dài để dụng công thì cũng không thể hiểu thông được. Nếu chưa biết hoặc biết chưa tới mà nhận định thì pháp Tri vọng kia cũng chỉ là do bản thân tự quy ước và đặt ra theo tư duy cá nhân rồi tự suy luận theo cách của mình, để tự mình làm cho mình lầm; chứ không đúng với pháp Tri vọng mà Hòa thượng Tông chủ đã dạy. Bằng một thái độ nghiêm túc, bằng một tâm sáng suốt, quyết chí thiết tha tu học, từ đó học kỹ và thông suốt để dụng công, mới mang lại nhiều lợi lạc.

d)  Không nhầm lẫn giữa bọt và nước – Vọng và chân.

Sóng do nước biến thành. Tương tự, vọng tưởng từ tự tâm biến hiện. Tuy nhiên, nước thì hay chở thuyền; còn sóng thì lật úp thuyền. Cũng vậy, chân tâm thì đưa chúng ta đến an lạc, giải thoát. Vọng tâm thì đẩy chúng sanh vào sanh tử khổ đau. Do vậy, không nên lầm nhận bọt làm nước. Cũng vậy, không lầm nhận vọng làm chân.

3.   KHÉO DỤNG CÔNG

a)   Khéo nhận tánh chân

Nếu khéo nhận, sẽ thấy ra rất rõ, đang khi vọng tưởng, tánh này không thiếu vắng. Vì tánh này luôn sẵn đủ cho nên mới biết đang có vọng tưởng hoặc không vọng tưởng. Ai cũng sẵn đủ tâm tánh bất động và rạng ngời ấy, nhưng hiện tại chúng ta còn bị các vọng chi phối, bởi chưa khéo nhận lại. Nếu hành giả tu hành, khéo thầm nhận lại bản tâm thì vọng còn hay hết, đều không can hệ, mà chỉ sống bằng tánh giác sáng chính mình. Khi công phu thuần thục, đắc lực, vọng tưởng tự mất lực chi phối, chúng ta sẽ thấy mọi thứ trở nên trong lặng, bình thường, trong tâm vui nhẹ nhưng sâu lắng. Thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bùng vỡ, vọng tưởng tự dứt bặt.

b)  Nghỉ ngơi ngay tánh chân

Giữa trường đời xuôi ngược dọc ngang, có lúc khiến mệt nhoài, bất lực, chúng ta đã đối diện như thế nào?

Ngài Tuệ Trung Thượng Sĩ nói: “Mệt thì ngủ chút chừ nơi chẳng quê hương”. Là quê hương, nhưng không phải có nơi chốn mà bàng bạc, trùm khắp, tức chỉ cho chân tâm Phật tánh nơi mỗi người. Ở đây, Thượng Sĩ nói, trên đường đời, trong cuộc đời, những lúc nhọc nhằn quá mức, nên trở lại tự tánh chính mình thì tất cả tự tan biến, an lạc. Cụ thể, hành giả khéo lặng xuống, mất hút các tướng mà không mê thì liền đó tâm thể sáng rỡ, lạc an. Không cần hết mệt (nhọc nhằn); cũng chẳng phải muốn còn mệt. Chẳng khởi tâm mong qua nhanh; cũng chẳng phải muốn nỗi đau còn mãi. Chỉ là ngay đó lặng xuống, liền an, liền đó được ngơi nghỉ tuyệt đối.

Sơ Tổ Trúc Lâm nói:

Gìn tính sáng tính mới hầu an,

Nén niềm vọng niềm dừng chẳng thác”.

Tổ dạy, luôn gìn giữ công phu, luôn sống bằng tự tánh chân thật chính mình thì chúng ta mới được an ổn thực sự. Buông vọng niệm thì niệm sẽ có lúc dừng, tự tánh hiện tiền, các vọng dứt bặt. Cho thấy, chỉ có tánh này mới cho chúng ta an ổn tuyệt đối. Ngoài ra, khác đi, chỉ mang tính tạm thời, vì tất cả đều còn trong tạo tác sanh diệt. Và sự thật, cái sanh diệt không thể điều trị, tiêu dung được cái sanh diệt, mà chỉ trở lại tâm tánh vô sanh thì các thứ sanh diệt tự thanh tịnh, lặng trong.

c)   Không còn ngán ngại sanh tử

Vịnh Vân Yên Tự Phú, Tam Tổ Huyền Quang nói:

Cốc được tính ta nên Bụt thực,

Ngại chi non nước cảnh đường xa”.

Một khi đã nhận lại tánh Phật chính mình rồi, tâm hành giả vô cùng lạc an. Dù vô lượng kiếp trôi lăn, tất cả ngang đây đều không còn giá trị. Và vòng luân hồi cho dù có bao nhiêu, cũng không còn thấy là xa xôi diệu vợi nữa. Bởi lúc này, sống là tu, tu là nhẹ nhàng hoan hỷ, sống là vui, không còn mong ngóng một điều gì đó ở đâu xa để phải cảm thấy nhọc nhằn, mệt mỏi.

4.  KẾT LUẬN

Công phu tu tập chỉ nằm trong yếu diệu chuyển vọng về chân. Với hành giả chưa ngộ, việc hạ thủ công phu chỉ vỏn vẹn trong mấy ý chính: Không khởi cái biết để biết về hay biết theo vọng tưởng. Không can thiệp trên vọng tưởng và các tướng. Chỉ là khéo mất hút các tướng mà không mê thì lúc này, muốn không biết cũng không được; liền đó, tánh mình tự sáng biết. Hằng ngày, trên mọi sinh hoạt, khéo nhận thẳng tánh sáng biết ấy thì tự khế hợp thể tánh vô sanh. Theo thời gian, công phu sẽ đắc lực, chín muồi, tâm tánh tự bùng vỡ, các vọng tự dứt bặt. Khéo dụng tâm, mới hay ra Phật pháp là chân thật, đã sẵn trước mắt lâu rồi.

 


 

NGAY THẤY NGHE BIẾT – TỰ TẠI GIẢI THOÁT

Kinh Lăng Nghiêm, mười phương đức Phật đồng thanh dạy: “Lành thay! A Nan, ông muốn biết câu sanh vô minh là cái đầu gút khiến ông luân chuyển sinh tử thì nó chính là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác. Ông muốn biết tánh vô thượng Bồ Đề khiến ông mau chứng an lạc giải thoát tịch tịnh diệu thường, cũng là sáu căn của ông chứ không phải vật gì khác”. Tức là sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) dính mắc sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là cội gốc sanh tử; sáu căn không dính mắc sáu trần thì ngay đó là Bồ đề, Niết-bàn.

Một cách thiết thực, cuộc sống mỗi người hằng ngày luôn tiếp xúc cảnh duyên, chúng ta thấy nghe hiểu biết. Nếu sáu căn trôi theo sáu trần thì mê lầm, dính mắc, chịu các thống khổ. Ngược lại, không theo sáu trần, làm chủ thân tâm, không để dính nhiễm thì không bị các trần chi phối, thoát mọi khổ đau. Chân lý là vậy. Nhưng trên thực tế, để làm chủ được mình, không bị sáu trần sai khiến vẫn là câu chuyện không dễ.

Muốn ứng dụng lời Phật dạy để tu tập ngay căn trần một cách có hiệu quả, hành giả cần nắm vững nguyên lý của sự dính mắc để dụng công, mới thoát được.

1.  CĂN NGUYÊN, LÝ DO DÍNH MẮC

Phật Tổ đã chứng ngộ viên mãn tự tánh, vẫn sống trong đời như chúng ta, nhưng các Ngài tự tại tiêu sái, không có gì trói được. Nơi mỗi chúng ta, khi nào sức giác sáng mạnh, sống bằng tánh thể chính mình, sẽ tự thấy mình đang vượt thoát tất cả một cách diệu kỳ. Cho thấy, sống bằng thể tánh, các pháp không đến kịp, vô giá trị, không còn đủ sức chi phối, không chạm đến được. Ngược lại thì bị dính mắc.

Nhìn cái gì đẹp liền thích, thấy điều không vừa lòng thì không ưa. Ưa và ghét, lấy và bỏ; đó là biểu hiện của sự dính mắc, đưa đến khổ đau. Sở dĩ dễ bị dính nhiễm như vậy là bởi không sáng tánh mình, rơi vào mê cho nên thấy nghe liền bị dính mắc, chấp trước. Như vậy, căn nguyên của việc nhiễm trước là do mê tự tánh, ngay đó thức mê có ra, chính cái thức mê này nó tự dính nhiễm. Phần thô, biểu hiện bên ngoài dễ nhận thấy là thích đẹp ghét xấu. Phần chìm sâu kín bên trong là căn thức tự hoạt động, tự dính nhiễm. Một ông chủ đánh con chó của mình nuôi thì nó sợ. Người khác đánh, chó sẽ cắn. Bởi hằng ngày chủ cho con chó ăn và chăm sóc cho nên nó bị lệ thuộc chủ của nó. Đó là điều hiển nhiên, cũng là biểu hiện của sự dính mắc. Tuy con chó không biết sự dính mắc là gì, nhưng khi mê thì thức mê tự nó dính nhiễm, không kịp hiểu biết.

Mỗi sáng ra quán Cà-phê, chúng ta thấy vui thích; phát hiện đây là sự dính mắc, liền buông. Hằng ngày vẫn hằng nhớ và luôn buông xả, nhưng hôm nào bận việc không ra quán thì trong lòng cảm thấy thiếu thiếu, tức sự dính mắc hãy còn nguyên, buông không sạch được. Khi gặp người khó ưa, liền buông xả, luôn luôn hằng nhớ buông xả như vậy. Nhưng khi đối mặt, cảm thấy không thoải mái, tức sự dính mắc còn nguyên. Chúng ta đã biết các pháp là huyễn, tự nhủ là phải buông, mình không hề muốn dính nhiễm, nhưng khi về nhà vẫn bị các bóng hình của pháp trần trồi lên, chi phối, như thế là đã dính nhiễm. Sự nhiễm trước này là do thức mê sâu kín bên trong tự nó dính mà không cho mình biết, cho đến khi có kết quả rồi chúng ta mới nhận ra. Do vậy, đôi khi chúng ta tu tập rất kỹ lưỡng, luôn tránh duyên, buông xả tất cả, nhưng kết quả lại khiêm nhường, ít thành công là vì cái thức mê này. Muốn tu tập có kết quả, cần phải nhận ra nguyên lý và khéo dụng tâm.

2.  KHÉO DỤNG CÔNG

Qua phần đã nêu trên, cho thấy, chúng ta thấy nghe hiểu biết mà bị nhiễm trước, dính mắc là bởi hai nguyên nhân chính:

-     Chiều sâu: Do căn thức mê nó tự nhiễm trước, dính mắc.

-     Trước mắt: Do chúng ta thấy biết phan duyên cho nên nhiễm trước.

Đức Phật nói với ông Uất-đầu-lam-phất: Thấy biết mà đợi có đối tượng mới thấy biết là còn phan duyên. Nếu còn phan duyên thì bị nhiễm trước, chưa thoát khỏi sanh tử[2]. Trên cơ sở đó, chúng ta có thể thấy rõ việc dụng công tu hành.

a)   Phương pháp bổ trợ: Buông bớt, đừng dính chấp

Thực tế, hầu hết chúng ta dụng công bằng cách, hằng ngày tiếp duyên xúc cảnh, nên tránh duyên, hạn chế tiếp xúc, hằng buông xả, không để sáu căn dính mắc sáu trần. Đây là cách phổ thông để ngăn ngừa sự dính mắc, không buông thả cho pháp trần tràn bờ che khuất bản tâm. Cách này vẫn tốt, nhưng chưa thể dứt trừ tận gốc để đạt đến vô nhiễm. Cụ thể, hằng ngày tiếp xúc, hằng buông, không để dính mắc đúng sai, phải trái, đẹp xấu… Nhưng khi ngồi yên thì các cảnh hiện lại. Bị người làm não hại, chúng ta cũng buông, nhưng khi đối diện lại không thấy thoải mái. Như vậy, buông không thể hết, nó vẫn còn. Lý do là chưa dụng đến chỗ rốt ráo. Ví dụ, khi gặp một cảnh đẹp hay xấu, chúng ta sợ bị dính nhiễm, quay lại mình, xoay vào trong, tức là ngăn ngừa sáu căn không cho dính mắc sáu trần. Nhưng chính khi quay lại như vậy thì hình bóng đẹp xấu kia đã ở trong đầu mình rồi, buông bỏ đi đâu cho được! Có hai lý do: Một là khi chúng ta muốn buông bỏ, đồng nghĩa đã cho cảnh ấy là thật cho nên xa lánh, tức thì cảnh ấy có giá trị với mình và đã gieo vào trong đầu dù chúng ta đã buông. Thứ hai, dù cho thấy cảnh là huyễn hóa đi nữa thì khi buông xuống vẫn là có động tác trong tâm, là dụng công còn trong tạo tác, còn loạn động; cách này chưa rời thức mê cho nên không chiến thắng được cảnh duyên.

Không buông xả thì không tu được. Có buông xả cũng chỉ thành công trong giới hạn chừng mực. Do vậy, buông bỏ mới chỉ là phương cách để hạn chế sự dính mắc bên ngoài, là một phương pháp ngăn ngừa giúp người mới vào đạo tu tập để dần được thuần thục, trước khi chuyển qua công phu chuyên sâu hơn.

b)  Thực tế trước mắt: Thấy biết không phan duyên

Công phu này nhắm thẳng đến căn nguyên của sự dính mắc.

Như trên đã nói, sở dĩ chúng ta bị nhiễm trước các trần là do căn thức mê. Thực tế, khi tiếp xúc sáu trần mà quên chân tâm, tức đã mê và cái mê này tự nó dính nhiễm; cho đến khi sự dính nhiễm này đã thành kết quả, hiện hình, chúng ta mới nhận biết. Có nhiều câu chuyện thoạt nghe, con người không tin, nhưng khi được nghe người khác lặp đi lặp lại nhiều lần thì lại tin theo hồi nào không rõ. Có lắm việc vừa mới nghe qua, chúng ta thấy chưa có lý. Nhưng khi nghe nhiều người tin và thực hiện thì lại bị lôi cuốn và làm theo. Đây là kết quả của sự dính nhiễm mà căn nguyên bắt nguồn từ thức mê và nguyên nhân là do bỏ quên bản tâm, phan duyên, nghe nhìn theo âm thanh sắc tướng.

Vẫn tiếp xúc với mọi hoàn cảnh, vẫn thấy nghe hiểu biết tất cả, nhưng hằng giác sáng. Biết rõ các tướng là hư vọng, không biết về hoặc theo tiếng để nghe. Mình là mình, cảnh là cảnh, không phan duyên, không tìm vật để thấy, không thấy nghe theo cảnh. Luôn sáng lại tánh mình, hằng sống và thấy nghe như vậythì sẽ không bị nhiễm trước, mới thấy đúng chân lý, sự thật và không bị chi phối như trên.

Nhớ lại chân tâm thì mới trừ được gốc mê thâm căn cố đế nhiều đời, mới có lúc sáng ra tâm mình, tâm ấy vốn không dính nhiễm. Phải trở lại bản tâm thì tâm này tự vượt thoát căn trần, các trần mất giá trị chi phối. Cụ thể trong sinh hoạt hằng ngày, khi thấy nghe biết, nhớ giác sáng, sống trở lại bằng tự tánh giác sáng chính mình, không phan duyên, sẽ trừ được sự nhiễm trước. Đây là yếu huyệt. Hành giả có thể nhằm vào chỗ này để kiểm điểm công phu, sẽ có hiệu quả.

c)   Chiều sâu bên trong: Dứt trừ căn thức

Khi mê tự tánh, chúng sanh sẽ rơi vào mê và loạn động. Gốc mê sâu thẳm bên trong nó tự động dính nhiễm trần cảnh mà không cho mình biết. Do vậy, dù chúng ta không hề muốn nhiễm, nhưng cũng vẫn bị nhiễm trước một cách vô lý. Đây chính là cội nguồn của sự dính mắc. Cái thức mê này, thông thường không thấy gì, nhưng nó trùm phủ hết tâm can của người chưa ngộ. Chỉ những bậc đạt ngộ, qua khỏi rồi thì mới nhận ra. Còn trong đó, không tài nào biết được hình dạng và hành tung của nó như thế nào. Muốn dứt trừ hẳn sự nhiễm trước, dính mắc, phải dứt trừ tận cội gốc căn để này. Bằng cách nào?

Bằng cách nào đó để dứt trừ thì cái mê đã đi trước, không trừ kịp. Bởi khi muốn làm gì tức đã rời bản tâm cho nên chúng ta đã tự mê. Đồng thời, muốn làm gì đó tức đã rơi vào tạo tác, mà trước khi tạo tác là đã mê. Cho nên, muốn làm gì để trừ thức mê thì chỉ khiến cho thức này thêm mạnh, không trừ được.

Nếu vậy, không làm gì thì sao? Nếu không làm gì, thả trôi thì vô minh vọng tập thêm nhiều, thức mê này có cơ hội lớn mạnh, cũng không trừ được. Có làm cũng không được, không làm cũng không xong, vậy phải làm sao?

Không làm gì cả, chỉ là sáng lại tánh mình, thức mê tự dứt. Điển hình khi trấn tỉnh thì tâm không có một vết mê mờ. Cho thấy, khi tâm giác sáng thì thức mê vắng bóng, như mở đèn thì bóng tối tự tan chứ không do làm gì cả. Cứ thế hằng giác sáng, công phu đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng vỡ, thức mê dứt bặt thì các vọng tự vắng lặng. Lúc này thấy biết vượt năng sở, như như không động, hay ra vào các duyên mà vẫn tự vượt thoát, không thấy có tướng ra vào.

Tăng hỏi Thiền Sư Bá Trượng Hoài Hải: “Đối tất cả cảnh làm sao tâm được như cây đá?”. Thiền Sư Bá Trượng Hoài Hải đáp: “…Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát, mỗi mỗi pháp ngay nơi đó là lặng lẽ, ngay nơi đó là đạo tràng”.

Khoan tìm biết trên cảnh mà giác sáng lại chính mình, liền đó chân tâm hiển hiện. Cảnh tự là cảnh, tâm tự là tâm, tâm cảnh không đến nhau mà hằng sáng biết rõ ràng. Ngay đó, tâm cảnh nhất như, chẳng phải là một thứ, cũng không phải phân hai hay khác nhau; chỉ là một tâm thể sáng ngời, tự vượt thoát.

d)  Tóm lại

Đợi đến khi đối cảnh mới dụng công, sẽ không đắc lực, không có lực tự chủ. Cần phải ‘Luôn sẵn một tánh giác sáng hiện tiền’, như thế là dụng công đúng nguyên lý, công phu sẽ tự tiến bộ, mạnh lên từng ngày thấy rõ. Khi công phu đắc lực, chín muồi, tâm bừng ngộ, sẽ tự siêu việt tất cả. Lúc này mới đủ diệu lực để tự tại, chuyển được cảnh duyên. Kinh Lăng Nghiêm, đức Phật dạy: “Nếu hay chuyển vật, tức đồng Như Lai”. Nghĩa gần hành giả có thể nhận ra là: Khi sống bằng tự tánh giác sáng một cách mạnh mẽ, các vật tự mất lực hút chi phối, tự mình hay dùng được các duyên một cách tự tại, tức đã chuyển vật, là nhờ tánh thể Như Lai nơi chính mình hiện tiền. Ý nghĩa sâu xa hơn, lúc này hành giả sống thẳng tự tánh giác sáng chính mình, tức đã tu hành, công hạnh tự giác, giác tha, giác hạnh viên mãn, sẽ thành tựu Phật đạo.

3.  KẾT LUẬN

Bất thần bị con kiến chích sau gáy, chúng ta giựt mình. Là một chúng sanh bình thường thì đó chỉ là phản xạ tự nhiên. Nếu khởi phân biệt của học hiểu thì đó là thức chấp ngã khiến chúng sanh phản ứng như vậy. Nhưng hằng giác sáng tâm mình thì ngay biết, chân tâm đã sẵn đó. Tất cả chỉ nằm trong một nút mở là chúng ta đang ‘sáng lại tâm mình’ hay ‘thấy nghe hiểu biết theo hiện tượng, sự việc, trần cảnh’. Việc tu hành chính yếu là tại chỗ này chứ không phải nằm trên tướng hình hay quan niệm nào khác. Mỗi người phải tự sống dậy, nhận ra, bởi việc này không nằm trong ngôn ngữ hoặc hiểu biết.

Khi nghe nói hoặc trông thấy người khác vắt chanh rất chua, chúng ta liền chảy nước miếng. Nếu không chảy nước bọt thì thần kinh vị giác của người này bị hư. Nhưng nếu còn chảy nước bọt thì còn cội gốc dính nhiễm. Thế thì phải như thế nào mới hợp đạo? Chưa nhận ra chỗ này thì căn thức mê vẫn còn, nó sẽ tự dính nhiễm, chi phối. Nếu sáng ra thì cả hai tướng ‘chảy nước bọt’‘không chảy nước bọt’ toàn không dính dáng. Tất cả tự lặng trong, sáng ngời, thênh thang, đất trời không chứa được. Không phải để giải bài toán trên mà hành giả lúc này đã có trí tuệ, diệu dụng, đối từng căn cơ, đưa ra vô vàn bài toán thích hợp để đẩy người học trở lại chân trời uyên nguyên muôn thuở của chính họ. Chưa thể như thế thì chín chắn nỗ lực dụng công thêm.

 


 

TRỤ LÀ NƠI AN TRÚ TỰ NGÃ

1.   KHÁI QUÁT CHUNG

Tự ngã được đề cập ở đây là bản ngã, được nhận biết qua hai dấu hiệu: Chấp thân tâm sanh diệt làm mình và trong tâm thầm thầm thấy có một cái được gọi là ta. Hành giả công phu sẽ phát hiện nó biến tướng qua nhiều dạng, nhưng tựu trung trong các phạm trù chính: Cái ta thông thường ngoài đời khi chưa tu tập, cái ta tu hành trong đạo (tu hành nhưng không khéo dụng công) và cái ta trong công phu, hoặc sở đắc.

Nguyên nhân hình thành tự ngã là do quên tự tánh, rơi vào thức mê, bản ngã được hình thành, do đó kẹt tâm chấp tướng. Từ đây, thấy biết rơi vào năng sở, phân biệt loạn động, cho nên sống trên bản ngã, tâm càng bị mê sâu, khiến sự chấp ngã ngày càng thêm lớn.

Một trong những nơi tự ngã ẩn náu thực tế dễ nhận ra, đó là ngay cách sống, hành vi (động dụng thi vi), nhưng quên giác sáng (quên tự tánh), vì thế, luôn có chỗ an trụ. Điển hình, khi thấy biết, con người thường thấy biết về cái gì đó, hoặc đợi có cảnh duyên, mới cho là mình có thấy biết... Như thế là đã an trụ trên cảnh. Mà có trụ, tức đã quên mình theo vật, quên tự tánh nên thức mê sanh. Đó là cơ sở để bản ngã ẩn náu, duy trì, tồn tại và lớn mạnh.

2. TRỤ NƠI AN ỔN, BẢN NGÃ CÓ NƠI ẨN NÁU

Không phải tại chỗ an ổn hay chỉ có chỗ an ổn, mà là do ở chỗ có trụ(cả chỗ an ổn và bất an). Khi vừa có chỗ trụ thì liền có chỗ cho bản ngã ẩn náu. Việc đó khiến tôi bực, tức đã trụ, liền đó bản ngã đã sanh, theo đó tạo nghiệp. Do chúng sanh thích trụ nơi an ổn, tìm nơi an ổn để trụ trước, đây là yếu huyệt khiến chúng ta thua bản ngã, không chiến thắng, không làm chủ được bản thân.

Một điển hình dễ nhận thấy, vị đệ tử nào được Thầy thương thì thườngỷ lại, gặp việc dễ trách cứ huynh đệ mình,không có khả năng chịu khó để dung hòa. Đây là do bản ngã ẩn náu tại chỗ nuông chìu. Đến khi gặp việc, cái tôi bị tổn thương cho nên phản ứng mạnh, nói năng hành xử trái đạo lý.

Nếu chúng ta có tu hành một chút thì cứng cỏi mà không khéo tùy thời hợp đạo như hành giả khéo dụng tâm như pháp, tức đã bị bản ngã lừa. Do thấy có chỗ tu hành để an trụ cho nên bản ngã tăng mạnh khiến chúng ta ít nói, nhưng người khác nói thì mình ít chịu nghe. Nếu dụng tâm đúng đạo, sống bằng chân tâm vô trụ, sẽ nhu nhuyến, như pháp, không sai lệch.

Hoặc là sống trong môi trường tu học an ổn, được Thầy khuyên thì quay lại tâm tu hành rất tốt. Nhưng khi gặp sự việc hay tình huống bất ngờ, vẫn không quên tự ngã, còn tâm tư riêng, có khi còn chấp nặng nề, bất chấp mọi thứ để bảo vệ cái thấy hoặc quan điểm riêng của mình. Bình thường thì rõ biết mọi thứ đều huyễn, kể cả quan niệm, quan điểm... Nhưng lúc này chỉ còn nhớ đến đúng và sai, bằng mọi giá để quyết bảo vệ cái được gọi là hợp lý mà quên mất đạo lý tu hành.

Đây là do sự an ổn, tạo điều kiện cho bản ngã có nơi ẩn náu và tăng mạnh. Tất cả đều là dấu hiệu của bản ngã, được ẩn náu nơi an ổn phát ra. Có thể thấy, ở trong chỗ an ổn mà không khéo dụng công chín chắn, bản ngã sẽ ẩn náu và lớn mạnh. Cho thấy, sự an ổn (an lạc) chưa đúng đạo, sẽ là nơi trú ẩn cho tự ngã lớn mạnh và cứng chắc, khó trừ. Nguyên nhân này khiến hành giả càng tu, càng chấp nặng. Chấp ngã chỉ khiến chúng ta càng mê sâu, lầm lạc, chướng ngại đại đạo và tạo nghiệp khổ trong sanh tử. Qua đó nhận ra, hành giả tu hành lâu năm mà không bình dị, không bình thường được, có thể là đã bị lạc.

3. CÔNG PHU CHƯA ĐÚNG, TRỤ NƠI AN ỔN, BẢN NGÃ TĂNG MẠNH

Không bàn đến những vị chưa sẵn sàng công phu, chỉ nhìn thẳng vào bản thân đã quyết chí dụng công tu tập. Hằng ngày luôn quay lại tâm mình, nhưng khi gặp việc thì chấp chặt vào quan điểm riêng hoặc quá quan trọng vào lý đúng và sai mà quên sống bằng chân tâm hiện tiền. Lý do là bởi công phu thấy có một tâm để trụ và trụ vào tâm an ổn ấy. Như thế vô tình đã trái với chân tâm thênh thang vô trụ. Từ đó, tâm bị giới hạn trong phần hạn an ổn nhỏ hẹp, dẫn đến khi gặp cảnh duyên quá sức chịu đựng thì bị tình trạng loạn động, thấy biết trái với chân tâm và chấp chặt như vừa nêu trên.

Cho thấy, nếu công phu không đúng, trụ nơi an ổn thì sẽ khiến cho bản ngã có nơi ẩn náu, có đủ thuận duyên để tăng trưởng. Bài học được rút ra ở đây là: Khi có chỗ cho tâm an trụ, có chỗ để trụ tâm thì bản ngã có nơi trú ngụ và lớn mạnh. Khi đủ duyên, nó sẽ bùng phát theo cách của nó. Cần nhận biết sai lầm này để điều chỉnh công phu.

4. KHI TRỤ, SẼ BỊ THIỆT THÒI NÀO?

v Vừa trụ là đã phan duyên – dính mắc

Giả sử nghe nói:

Đôi khi nhìn thấy người điên đảo,

Mà chẳng thấy mình cũng đảo điên.

Chúng ta thấy ra đạo lý gì?

Nếu ở phạm trù sách tấn hoặc tự xét lại mình để sửa lỗi lầm, không nhìn phải quấy của người khác, cần kiểm điểm bản thân để tiến tu thì rất tốt. Nhưng nếu xét tột công phu dụng tâm tu tập thì vẫn nhằm trên sự điên đảo để thấy biết, tức là thấy biết theo cảnh, do đó chưa thoát khỏi điên đảo.Dụng tâm như vậy còn dừng kẹt trên cảnh, chưa khéo nhận lại bản tâm, do vậy kết quả chỉ khiêm nhường, lực dụng không đáng kể.

Cái thấy biết này bắt nguồn từ việc phan duyên, rồi dừng trụ trên cảnh. Cụ thể, cảnh trong câu thơ trên là sự điên đảo, đảo điên. Việc phan duyên rồi dính mắc này nó nằm sẵn trong bản chất của mê. Tức là khi mê thì tự thức mê nó phan duyên và dính mắc; khéo tỉnh sáng mới dừng được. Quên tâm liền mê, từ đây thấy biết phan duyên, tìm biết trên cảnh, biết theo hoặc biết về cảnh sở duyên, nên bị dính mắc. Chính vì vậy cho nên đối trước sự việc, không sáng lại bản tâm mà thích can thiệp trên cảnh. Đối trước các cảnh, thích cảnh như ý mà không khéo ngay đó nhận lại tánh giác sáng. Đối với đạo lý thì thích tìm hiểu và bàn luận theo một mệnh đề mà quên tâm (mê bản tâm). Nghe răn nhắc thì phản ứng và thích nghị luận theo chiều hướng đúng và sai, không có đức dụng tiêu hóa hai bên để trực nhận tự tánh... Do đây nên bản ngã ngày càng tăng, đạo nhãn thì càng tối, tu không tiến bộ.

v Trụ sẽ thiệt thòi lớn trong công phu

Khi trụ vào một chỗ nào đó, tức đã bỏ quên chân tâm vốn tự trùm khắp. Nếu trụ vào tâm, tức đã biến tâm thành một thể như thế nào đó để có chỗ trụ. Lúc này, tâm đã biến thành tướng sở duyên, không phải là bản tâm chân thật. Hơn nữa, trụ tâm như thế là đã kẹt tâm, không được khai phóng, trái với bản thể hoát toang thông thống sẵn đủ nơi mình. Mặt khác, hành giả dụng công, hễ vừa có trụ, tức đã âm thầm có kềm đè trong vi tế. Kết quả sau đó thường xảy ra các phản ứng phụ dữ dội, làm trở ngại công phu, đôi khi khó tiếp tục tu tiến. Tất cả những an trụ trên đều tạo điều kiện cho bản ngã có nơi ẩn náu, khiến mê lầm, chấp ngã, làm chướng ngại việc tiến đạo.

Tóm lại: Trụ, tức đã trụ vào một chỗ nào đó, chưa phải chân tâm vô trụ. Trụ vào chỗ lóng lặng, vắng bặt, đó chưa phải là đạo chân thật, nên bị ngăn ngại. Chấp vào sở đắc, sẽ sanh bệnh trong công phu. Trụ là nguyên nhân khiến bản ngã có nơi ẩn náu, lớn mạnh, làm chướng đạo. Hành giả có công phu chuyên sâu, bản ngã không đơn thuần là thô ngã phàm tình, mà có khi là sự chấp ngã sâu kín do tâm thuần tịnh biến hiện vi tế, khó nhận biết. Vì vậy khi tu tập, cần chín chắn để khế với bản thể tự tánh vô sanh, hợp với đạo lý chân thật vô tướng, mới tiến đạo.

5. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ LƯU XUẤT TỪ BẢN TÂM

Phan duyên theo cảnh, tức mê, trái với công phu tu tập. An trú tự tâm thì vẫn chưa rời chỗ nơi, thấy có tâm để trụ vào nó, trái với chân tâm sẵn vậy, vốn tự thênh thang, trùm khắp. Cả hai trường hợp trên đều chưa rời sở duyên, còn trong tạo tác, rơi vào hai bên sanh diệt, không khế hợp đạo lý chân thật. Khéo nhận bản tâm vô trụ, không nơi chốn, mới hợp đạo. Không ở vào một nơi nào, cũng không phải ở vào tất cả chỗ. Bặt dấu vết, bất động, nhưng rạng ngời, linh thông đến chủ động vẫn không thấy có tướng để động. Lúc này, tới lui, làm lụng, đối duyên xúc cảnh vẫn không khác tự tánh vô tướng không động này. Hành giả đạt đến “Oai nghi tịch tĩnh” như thế, đức Phật dạy điền địa này là “Diệu hạnh vô trụ”. Hạnh là chỉ cho tất cả các hành động và việc làm đều như pháp, nhưng vô tướng, không động cho nên được gọi là diệu hạnh. Hành giả đạt đến điền địa này, tùy duyên, tùy thời đến đi… mà không thấy có tướng đi đến gì. Đức dụng này được lưu xuất từ tự tánh vốn tự thênh thang, không nơi chốn (vô trụ), nên nói “Diệu hạnh vô trụ”.

Muốn đạt đến rốt ráo như thế, trước tiên hành giả cần xác quyết cương lĩnh lập trường trong tu tập. Tu hành cốt yếu phải sáng tâm, ngoài ra, tất cả đều không có giá trị. Trên cơ sở lập trường đó để thực hành công phu. Khi đối duyên xúc cảnh, khéo suốt qua tất cả, không dừng trụ vào bất cứ gì hoặc ở đâu cả. Ngay đây, tâm rạng ngời, thơ thới, để không tạo nên dấu vết của tâm, không thấy có tâm để an trụ. Tới lui sinh hoạt hoặc làm tất cả việc cũng bằng một tâm như thế, mới tiến đến diệu hạnh vô trụ. Khéo dụng công như vậy sẽ khế tự tâm, công phu tự suốt thông, tiến đạo, không ngăn trệ.

6. TU TẬP XUẤT PHÁT TỪ TÂM

Đối trước một sự giáo hóa, nhưng có nhiều tác dụng, bởi cách dụng tâm của mỗi hành giả. Dồn tâm vào công phu tu tập, sẽ thấy cảm động khi nghe pháp. Nếu quan tâm các Phật sự thì lại thấy được cái hay trong khi thừa hành công việc. Đây là do chỗ quy hướng, do việc dụng tâm của mỗi căn cơ không đồng nhau.

Hành giả dồn tâm chuyên sâu, sẽ có cơ hội tiến sâu tâm chứng. Nhưng phải khéo trừ sự an trú, khiến bản ngã tăng trưởng, chấp cứng, chướng đạo. Khi gặp duyên phải thừa hành Phật sự, nếu khéo ngay trên công việc để dụng tâm, hoạt dụng sẽ được phát huy, đạt đến dung thông, viên mãn. Tuy nhiên, phải cẩn thận để tránh sự xao nhãng khiến lười ngồi tu. Việc này bản thân phải tự xét lại công phu và thật thà với chính mình.

Hành giả sống bằng chân tâm thì tự mình an lạc, thoải mái, không cảm thấy bị áp lực trong công phu hoặc quan trọng bất cứ gì. Khéo tùy thuận tất cả, tùy duyên trên các công việc, nhưng vẫn thấy rõ tất cả đều như huyễn, không động. Nói hay nín, làm hoặc dừng như co và duỗi cánh tay, tùy thời, tùy duyên, không dính kẹt. Như thế, đạo tự sáng ngời, viên dung. Dụng tâm đã đúng đạo, tất nhiên sẽ tự tiến đạo, không thể khác.

Thực tế, hiện nay đây, đối với tất cả cảnh duyên, tình huống, hoàn cảnh hay sự việc…, chúng ta đang thoải mái, lặng an, tự tại thấy nghe bình thường, lưu thông; hay căng thẳng, quan trọng mọi thứ để nhận định về các vấn đề? Đang tự sáng biết; hay biết theo sự việc, nhận định về hiện tượng? Đang vô tướng, thênh thang mà biết khắp, không động, đúng với thể của chân tâm trùm khắp; hay trong tâm có một vật khiến mình phải bảo vệ và đi theo chiều hướng của nó, cho tâm bị ngăn trệ? Câu trả lời đã có trong phần vừa trình bày trên. Chín chắn kiểm tâm, sẽ tu tốt.

7. ĐỂ ĐƯỢC CÂN BẰNG CÔNG PHU

v Luôn sống bằng chân tâm

Hạ thủ công phu tu Thiền, khéo dụng thẳng đến chân tâm, ngoài ra, không việc khác. Sống bằng tâm giác sáng, thênh thang, vô trụ. Bằng tâm thơ thới, thoải mái, bình thường để tâm ấy tự thấy nghe sáng biết, sẽ không tạo nên tướng của dụng công hay bất kỳ dấu vết nào của tâm. Ngay đó, chân tâm hiển hiện, rạng ngời. Không quan trọng để phải nghe theo mọi thứ rồi phân tích, vô tình bỏ sót chân tâm.

Cụ thể, hiện nay đây, chúng ta đang ở ngay thể chân tâm thì tâm tự sáng biết. Không cần phải biết về cái gì đó mà nó tự biết khắp, không động, sáng ngời. Không quan trọng bất cứ gì để phải vin theo lời, phân tích tìm đúng sai, có lý hoặc phi lý. Hễ vừa phan duyên là đã mê chân tâm, quên mình theo vật. Người có đạo,dù cảnh duyên có oan nghiệt hay ngang trái đến đâu thì cũng chọn đạo, giữ đạo tâm. Khác với việc thiếu tu hành,dù ở trong cảnh thuận, có nhiều lựa chọn, cũng lựa chọn con đường đấu tranh, sanh tử, chỉ mê lầm, chuốc lấy khổ đau.

v Không ích kỷ, nhỏ nhoi

Quan trọng bản ngã, tâm thường nhỏ hẹp. Tâm vị kỷ, nhỏ hẹp, bản ngã đã ngủ ngầm trong đó. Vì thế, sẽ không nhớ đến nỗi khổ niềm đau của người khác. Biểu hiện, thường muốn giành phần lợi thế về mình. Lời nói, việc làm, hành động dễ làm tổn thương người khác, cũng là tổn thương tâm từ bi chính mình. Các sai lầm và pháp ác từ đây dấy khởi, chướng ngại đạo tâm.

v Thi ân – Bố đức (Phát tâm)

Khi phát tâm vì người khác hoặc tích cực với công việc chung, tâm mình sẽ thoáng rộng, trừ được sự nhỏ nhoi. Không kẹt trong nhỏ hẹp, liền thành cao xa, giúp tâm mình rộng lớn. Kết quả,đối trước các tình huống, thấy mọi việc đều bình thường, không có gì quan trọng như mình vẫn nghĩ. Nhờ sự rộng lớn cho nên nhìn bằng tâm từ bi. Do đây, trí tự sáng, tâm bình thường, năng lực của tâm càng lớn mạnh. Nhờ vậy mà xử lý, hành xử mọi chuyện sẽ khế tâm chân, hợp đạo, không tổn đức, tất cả đều được vẹn toàn, viên mãn.

v Thanh tịnh – Không can thiệp tất cả

Người có trí tuệ sẽ không xử lý trên sự việc mà biết nâng cao tầm nhìn để sự việc không còn giá trị chi phối. Hành giả tu hành cũng vậy, không can thiệp trên bất cứ gì mà biết an định, thanh tịnh tự tâm, trở lại bản tâm thênh thang thì tất cả tự vắng lặng, tiêu dung tất cả (tất cả tự tiêu dung). Cụ thể, đối trước mọi hoàn cảnh, tâm hằng lặng trong, sáng ngời, không lăng xăng luận bàn, tư duy, suy nghĩ trong hai bên thị phi... thì tất cả cũng tự lặng trong, thanh tịnh. Nếu thích các pháp đấu tranh thì biết căn lành, chủng duyên đối với Bát-nhã cạn mỏng. Đó chỉ là tập khí của phàm phu, không có đạo lý gì trong ấy.

8. KẾT LUẬN

Xác quyết công phu tu tập phải từ chân tâm, không sai khác. Khi nào chưa thành Phật thì con đường tu hành chưa viên mãn. Không trụ trước vào bất cứ pháp hữu vi nào. Không lập phần hạn của tâm để thấy tâm là như thế nào đó và an trụ. Không thấy có sở đắc để thủ chứng. Hằng sống bằng tâm vô trụ thì tự ngã không có chỗ để an thân lập mạng. Được vậy, mới có lúc tất cả tự rơi rụng, vỡ vụn, vắng bặt, bất ngờ như tự trả lại bản tâm vốn tự thênh thang sẵn vậy lâu rồi.

Muốn vậy, hành giả phải khéo dụng công khế hợp chân tâm. Xem tất cả các pháp đều không có giá trị. Không vì bất cứ gì để phải đánh mất công phu. Chỉ nhắm đến trọng tâm vì việc lớn sanh tử của chính mình và mọi người. Như thế, tâm tự khoáng đạt, khai sáng, lòng đầy từ bi. Bản thân đã có trí tuệ nên tự thấy biết đúng đắn, hành xử khế đạo giác ngộ giải thoát, tất yếu công phu tu hành tự tiến bộ, không cô phụ chính mình.

 


 

THIỀN LÀ NGỘ TÁNH

 1.   ĐẠO PHẬT LÀ GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT

Nói đến đạo Phật là nói đến giác ngộ giải thoát. Mục đích và tâm nguyện của người tu Phật là muốn đạt đến giác ngộ, giải thoát, dứt khổ, an vui, cứu giúp người khác cùng đạt được như vậy. Nhắc đến giác ngộ, nhiều người thường nghĩ ngay đến việc mình đã giác ngộ cuộc đời vô thường, mạng sống mong manh, của cải phù du, tất cả đều tạm bợ. Tuy vậy, chúng ta vẫn còn bị buồn khổ chi phối. Giác ngộ nhưng vẫn chưa thoát khỏi tuyệt đối như thế thì chưa đúng giá trị của Phật đạo, chưa đúng như nguyện của hành giả tu hành.

Tuy nhiên, nếu bảo thấy biết như trên vẫn chưa phải giác ngộ cũng không đúng. Bởi trước kia chưa được tu học, chúng ta không có khả năng thấy biết như vậy. Thế thì, cho là đã giác ngộ cũng chưa phải. Nói là chưa giác ngộ cũng không hoàn toàn đúng. Phải thấy thế nào?

Thực tế, thấy biết được như trên là thấy đúng bản chất thật cuộc đời, thân người và các pháp, là đã thấy biết giác ngộ. Nhưng mới nương lời Phật để hiểu biết, nhận ra phần nào, chứ chưa phải chính mình tự ngộ ra, do đó chưa có nội lực để vượt thoát, đúng như ý nghĩa giác ngộ cứu cánh. Nếu thấu suốt hai chân lý dưới đây, sẽ nhận ra đầy đủ về sự giác ngộ:

1)   Trí tuệ - Giác ngộ - Giải thoát.

2)   Trí tuệ = Giác ngộ = Giải thoát.

v Thứ nhất: Trí tuệ à Giác ngộ à Giải thoát

Tức là phải có trí tuệ à Mới giác ngộ à Sau đó mới được giải thoát. Phải trải qua thời gian, không gian và có lộ trình tuần tự như vậy.

Nhờ học Kinh Luận mà có trí tuệ, biết đời là giả tạm, thân này huyễn hóa. Từ đó, không dính chấp, giảm mê lầm, bớt khổ đau... Nhưng chúng ta vẫn chưa làm chủ tuyệt đối, còn bị đau khổ. Lý do là trong tâm còn loạn động, trong khi đó đức Phật dạy phải đạt đến “cái lõi” “tâm giải thoát bất động”[3], mới được giác ngộ, hết khổ. Đây chưa phải là trí tuệ chính mình ngộ ra, chưa có nội lực đủ lớn cho nên việc làm chủ còn hạn chế. Do vậy, sau khi học hiểu, tiếp theo hành giả phải ứng dụng để hạ thủ công phu tu tập à Mới đạt đến giác ngộ đúng nghĩa à Sau đó phải miên mật bảo nhậm công phu, được đắc lực, đầy đủ diệu lực, mới được giải thoát.

Đây là lộ trình phổ thông, là hướng tu hành cho căn cơ tiệm tu. Phải học hiểu chánh pháp, có trí tuệ. Tiếp theo phải tu hành à Rồi mới được giác ngộ, nhận ra diệu chỉcủa Phật Tổ à Sau đó khéo giữ gìn, lực dụng tự tánh phát huy đủ mạnh, mới được giải thoát.

v Thứ hai: Trí tuệ = Giác ngộ = Giải thoát

Ở đây, ngay khi bừng ngộ trí tuệ chân thật = Cũng chính là đã giác ngộ = Liền đó tự vượt thoát (giải thoát). Không trải qua một khoảng không gian hay thời gian nào cả.

Là hướng đi của hành giả có kinh nghiệm. Ngay đây ngộ thẳng tự tánh (trí tuệ nguồn vô sư); là cốt tủy Phật Tổ muốn chỉ bày. Ngộ được trí tuệ này = Chính là trở lại cội nguồn của sự giác ngộ. Bởi trong ấy vốn tự không động (tức đã sẵn định); đồng thời đã sẵn trí tuệ vô lậu sáng ngời. Diệu lực của trí tuệ này cho hành giả liền đó tự vượt thoát tất cả = Giải thoát.

Đây là lộ trình thẳng tắt. Hành giả ngộ thẳng tự tánh = Tức là giác ngộ = Liền đó tự vượt thoát tất cả, tức giải thoát. Như suốt thông qua ngón tay, khéo nhận thẳng mặt trăng. Khéo tu như vậy là nhận thẳng cốt tủy của Thánh giáo Như Lai chứ không phải chối bỏ Thánh điển. Nhận chân cốt lõi giác ngộ để được giải thoát như vậy là đã nhận chân được “tâm giải thoát bất động”, chính là “cái lõi” mà đức Phật đã chỉ dạy. Qua đó, chúng ta có thể nhận ra trọng tâm của giác ngộ tựu trung có hai phần:

1.1.  Một là cội nguồn giác ngộ

Tức ngộ tự tánh. Tánh ấy vốn sẵn, không sanh diệt, vốn tự không động, nên gọi là định. Tánh này đã sẵn sáng ngời, nên gọi là tuệ. Lục Tổ khẳng định: “Tự tâm không loạn là định, tự tâm sáng suốt là tuệ”[4], chính là điền địa này. Hành giả bừng ngộ tánh này, hay ra định tuệ sẵn vậy lâu rồi, chứ không phải do làm gì để được. Tánh này có diệu lực cho hành giả tự vượt thoát tất cả một cách tự nhiên, như nhiên, không có sự cố gắng, gắng gượng hay giữ gìn gì trong đó, gọi là giải thoát.

1.2.  Hai là thấy biết giác ngộ

Từ cội nguồn đã ngộ, cho hành giả thấy biết đúng chân lý các pháp vốn dĩ như thị. Cụ thể, thấy rõ tường tận các pháp đều là vô thường, khổ, không, vô ngã, huyễn hóa, tạm bợ... Nhưng vẫn như như không động. Người vẫn đây, cảnh vẫn đó, đời đổi thay... Tất cả rành rẽ rõ ràng, nhưng không hề khởi phân biệt, không dính dáng gì đến tự tánh kia. Các pháp không ngăn ngại nhau, mà tất cả lưu thông và trở nên rạng ngời, hiện hữu trong tự tánh chánh định chính mình. Chơn biết là chơn, huyễn rõ là huyễn, thiện ra thiện, ác ra ác... không nhầm lẫn nhau, nhưng vẫn như như, không động.

Khi mới học đạo, chúng ta đã biết đời là giả tạm, thân người mong manh, vật chất huyễn hóa… Nhưng tâm vẫn còn động, chưa thoát khỏi thức mê cho nên chưa đạt đến tâm giác ngộ với tuệ bất động, chưa có diệu lực cho chúng ta giải thoát đúng nghĩa. Hành giả chứng ngộ tự tâm, có trí tuệ Bát-nhã thấy biết rõ ràng hơn như vậy, nhưng do không còn tình thức cho nên không động, không khởi phân biệt mà tự thấy biết trùm khắp, đạt đến như huyễn tam-muội. Chính sức sống tự tâm cho hành giả thấy biết các pháp đúng như thật, vẫn bất động, do đó được tự tại giải thoát.

Lúc này, đúng sai, thiện ác, đẹp xấu... hành giả thấy biết rành rành, nhưng vẫn như như. Thấy biết này vượt căn và cảnh, năng và sở; vốn như thị và linh thông vô cùng. Thấy biết này xuất phát từ tự tánh của hành giả đã ngộ. Tự tánh ấy là cội nguồn giác ngộ và cho ta thấy biết như thế là diệu dụng, là thấy biết giác ngộ. Hành giả đạt đến đây rồi, các khổ không chạm đến được, nên tự tại, tiêu sái.

1.3.  Các pháp còn lại

Bên cạnh đó, các pháp còn lại như là: Gieo duyên Tam Bảo, làm lành lánh dữ, học pháp, tu tập; cho đến việc tụng Kinh, tọa Thiền...  đều là pháp phương tiện để gieo duyên, cho hành giả tập sự tu tập dần dần. Nhưng mục đích chính vẫn là cốt yếu đạt được đích đến rốt ráo cuối cùng: Cốt lõi giác ngộ – Giải thoát.

Có người cho rằng không cần tu hành ngộ đạo cao siêu, chỉ mong sống tốt, hiền lành, vui vẻ là quý rồi. Muốn là một việc, nhưng khi gặp phải câu chuyện hoặc sự cố quá sức chịu đựng thì muốn an cũng khó, mong khỏe cũng không dễ dàng. Vậy thì cái gì có thể cho chúng ta đạt được nguyện ước trên một cách chắc chắn, an toàn ngay hiện tại, kể cả mãi về sau?

Khi nghèo, tâm tốt thì cuộc sống được thanh cao, an ổn, nhưng lại túng thiếu vật chất cũng không hề dễ chịu. Lúc giàu có nhiều điều kiện, gặp việc nghịch ý liền ra tay rồi phải gánh lấy hậu quả đọa lạc về sau. Có phước mà thiếu trí tuệ dẫn đường thì phước đó là điều kiện thuận để chúng ta tạo họa và vào trong các khổ. Tất cả cho thấy chúng ta chưa ổn bởi các nghiệp do mình gây tạo mà nguồn cơn là do không làm chủ được bản thân.

Nếu tu hành giác ngộ, tâm sẽ tự lặng an mà rất sáng. Trong ấy có tuệ thấy ra mọi vấn đề, không mê lầm, không tạo nghiệp để phải chịu khổ. Đồng thời có định cho chúng ta tự chủ và sống đúng như những gì mình thấy biết. Có tuệ thấy ra, có định tự chủ, có diệu lực khiến cho không có bất cứ gì chạm đến được, hành giả sẽ được như nguyện. Đạt được như vậy thì các khổ tự trừ, tự được an lạc. Như vậy, muốn được sống tốt, hiền lành, vui vẻ một cách chắc chắn, không bị trở ngại thì không gì hơn là phải tu hành giác ngộ. Tự tâm giác ngộ này mới đủ trí lực, cho chúng ta sống được như nguyện, không bị các khổ chi phối.

Cho thấy, tất cả các phương pháp đều hướng đến giác ngộ tự tánh. Và phải ngộ tự tánh, mới đạt được an lạc diệu thường. Tất cả mỗi mỗi đều từ trong ấy lưu xuất, mới vượt thoát, sanh vẫn không sanh, diệu dụng bất khả tư nghì, phát minh vô tận.

2.   TRÌNH ĐỘ GIÁC NGỘ

2.1.  Cội nguồn giác ngộ thôi thúc

Mỗi chúng ta đều có Phật tánh. Nhiều đời trước đã có duyên lành tu hành đúng pháp, có được kết quả nhất định. Nay ra đời, do tánh Phật và chủng duyên tu hành sâu dày thôi thúc, khiến chúng ta thấy đời tạm bợ, của cải phù du, muốn học đạo, tu tập. Đây là sự giác ngộ được khơi nguồn từ “cội nguồn giác ngộ”, cho chúng ta thấy biết bản chất thật các pháp là huyễn hóa, nên tìm đường tu hành, cầu giác ngộ, giải thoát. Do mới chỉ được một phần thôi thúc, chưa phải ngộ ra trọn vẹn, cho nên chưa có diệu lực đầy đủ.

2.2.  Ngộ ra cội nguồn

Tìm đến Phật đạo, phát tâm tu học. Gặp Thiện tri thức, nghe chánh pháp, thực học chuyên tu. Có vị ngộ thẳng tự tánh. Có người phải khéo dụng công khế hợp tự tánh vô sanh. Trải qua thời gian công phu đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng ngộ, diệu dụng bất khả tư nghì, tự tại giải thoát. “Cội nguồn giác ngộ” đã hiển hiện, từ đây hành giả có được cái “thấy biết giác ngộ” chính là diệu dụng được lưu xuất từ tự tánh – Từ cội nguồn đã được ngộ.

2.3.  Giác ngộ viên mãn

Sau khi đã ngộ tự tánh, hành giả khéo sống và bảo nhậm, đồng thời tiêu dung tập khí. Ngay khi hành giả tiêu dung tập khí, cũng không khác sức sống từ tự tánh này, do đó cũng chính là lúc đang công phu. Cứ như thế, bảo nhậm tự tánh cũng chính là thành toàn diệu hạnh cho chính mình, không hai, không khác. Khi công viên quả mãn, Phật đạo tự thành.

3. NÓI ĐẾN THIỀN TÔNG LÀ NÓI ĐẾN NGỘ TÁNH

Đức Phật tọa Thiền, tu Thiền mà thành Phật. Chư Tổ nhờ tu Thiền, ngộ Thiền, rõ suốt tâm tông của Phật, hạnh giải tương ưng mà thành Tổ[5]. Đức Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ca-diếp, từ đó chư Tổ thay nhau trao truyền là truyền bản tâm Thiền đã được chứng ngộ. Nơi mỗi chúng ta, ai cũng sẵn bản tâm này. Tâm tánh ấy nơi Phật và chúng sanh bình đẳng như nhau, không khác. Ngộ bản tâm này là ngộ Thiền, cho nên Thiền là cốt tủy của đạo Phật.

Như vậy, khi đề cập đến Thiền là nói thẳng đến cốt tủy của đạo Phật. Cốt tủy này chính là giác ngộ - Ngộ tánh. Do đó, khi nói đến Thiền tông là nói đến việc kiến tánh, ngộ tánh.

Kinh Lăng-già, đức Phật dạy: “Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn”. Nghĩa là: “Lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm cửa pháp”. Hòa thượng Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm hiện nay nói: “Trong nhà thiền, nói tới kinh Lăng-già, tức là nói đến tâm ấn của Phật Tổ”. Tức là nói đến Thiền tông. Cho thấy, Thiền tông: “Lấy tâm làm ch, lấy cửa không làm cửa pháp”. Hành giả tu Thiền, dùng trí tuệ Bát-nhã “Thấu tột các pháp vốn không” làm cửa vào, để nhận thẳng tâm tánh, là chỗ rốt ráo chính yếu. Từ đây để tu hành mới có ngày viên mãn, thành Phật.

Tổ Đạt Ma nói: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, đã trở thành châm ngôn nhà Thiền. Lục Tổ nói: “Chỉ luận kiến tánh. Không luận Thiền định giải thoát”. Nhị Tổ Pháp Loa nói: “Là người học Phật, trước phải kiến tánh”. Hòa thượng Tông chủ hiện nay dạy: “Nói đến Thiền tông là Kiến tánh khởi tu”. Một cách cụ thể, Thiền tông dùng tâm ấn tâm. Tức là hành giả ngộ tâm, liền suốt thông, đồng với tâm thể chư Phật, gọi là truyền tâm ấn. Tổ Ca-diếp ngộ tâm nên được đức Phật truyền tâm ấn. Chư Tổ trao nhau là trao truyền tâm ấn này. Cho thấy, kiến tánh, ngộ tâm chính là tông chỉ của Thiền tông. Chính ngộ tánh mới làm nên Thiền tông. Ngoài ra, không có phương cách nào khác.

3.1. Lý do 1: Ngộ tánh là cốt lõi, là “Cái lõi” của đạo Phật, cũng như của người tu Phật

Kinh Thí dụ lõi cây, đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”.[6]

“Phạm hạnh này” chính là hạnh tu mà người con Phật đang sống và thực hành để đạt đến rốt ráo viên mãn.

Đức Phật khẳng định: “Tâm giải thoát bất độngchính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”.

- Cái gì bất động?

Chính là tâm tánh chính mình vốn sẵn tự tịnh tự định, muốn động cũng không được. Lục Tổ Huệ Năng đã chứng ngộ và thốt lên một cách khẳng khái: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”[7] là vậy.

- Tâm này có khả năng giải thoát như thế nào?

Ngộ bản tâm này sẽ có diệu lực cho hành giả tự tại vượt thoát tất cả, tức giải thoát. Tổ Bá Trượng Hoài Hải đã sống thực và dạy chúng ta: “Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát”[8]. Cảnh đó, mình đây, sáng biết rõ ràng đến chủ động, linh thông, nhưng vẫn như thị, không động. Toàn tâm sáng ngời, trùm khắp, rành rành tất cả nhưng không khởi phân biệt. Tuy không phân biệt mà sáng biết rành mạch, rõ ràng, hơn cả sự phân biệt của ý thức. Tâm này không có tướng trạng gì, chỉ là một sức sống rạng ngời, nhưng diệu lực vô biên, tất cả trần lao phiền não không chạm đến được. Do vậy, hành giả ngộ tâm này, liền đó tự tại, tiêu sái. Tổ Bá Trượng khẳng định, ngay tánh sáng biết rõ ràng mà cảnh không chạm đến được; nhưng tất cả không ngoài tâm, bởi đang thấy biết. Nhận thẳng tâm tánh mặc tình sáng biết rạng ngời thênh thang như thế, ngài nói, ngay đó giải thoát.

Đức Phật đã nhấn mạnh, người tu phạm hạnh không phải vì bất cứ lợi ích gì, kể cả lợi ích thành tựu thiền định”. Chỉ vì duy nhất một việc cốt lõi đó là “tâm giải thoát bất động”; tức là ngộ bản tâm bản tánh chính mình. Đến đây, không cần cầu Thiền định mà Thiền định tự thành tựu. Ngài khẳng định, đây “là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”;tức là chỗ cứu cánh của Phật đạo, cũng là cốt lõi trọng yếu của người tu Phật. Lục Tổ Huệ Năng nói: “Chỉ luận kiến tánh, chẳng luận Thiền định giải thoát”[9], là yếu chỉ này. Cho thấy, ngộ tánh, chính là cốt lõi của đạo Phật nói chung và Thiền tông nói riêng.

3.2.   Lý do 2: Chỉ khi ngộ tánh mới thành toàn các hạnh tu tập

Thiền sư Huyền Giác nói: “Lục độ vạn hạnh thể trung viên”. Sáu độ muôn hạnh vốn đã tròn đủ trong thể tánh ấy. Và phải ngộ tánh này mới viên tròn các hạnh tu tập được.

Điển hình, hành giả muốn trừ dẹp tham sân si, phải trở lại tự tánh giác sáng thì ba độc vắng bóng. Nếu có làm gì đó, tức rơi vào tạo tác sanh diệt. Tham sân si là loạn động sanh diệt, làm gì đó để trừ cũng đồng tính chất loạn động sanh diệt. Cái sanh diệt không thể tiêu trừ được sanh diệt, mà phải bằng cái vô sanh. Ngài Nham Đầu Toàn Khoát dẫn lời cổ đức nói: “Chẳng phải trần chẳng xâm phạm ta, nhưng khi ta vô tâm thì nó cháy”, chính là nghĩa này. Cho thấy, phải trở lại tự tánh, mới tiêu dung được ba độc.

Đến như các hạnh Ba-la-mật, phải trở lại tự tánh, mới đạt đến rốt ráo, cứu cánh thanh tịnh. Ngoài ra, đều nằm trong tạo tác, các tướng hãy còn, không thể đạt đến rốt ráo viên mãn (Ba-la-mật).

Như vậy, các hạnh tu như là: Trừ ba độc, thấy các pháp huyễn hóa, … cho đến các hạnh rốt ráo đạt đến Ba-la-mật… ban đầu phải trở lại tự tánh, tiếp theo phải được lưu xuất từ tự tánh, mới suốt tột. Ngoài ra, tu hành theo kiểu nào cũng chỉ là tạo tác, chưa rời pháp sanh diệt, cho nên không có kết quả khả quan, không thể đạt đến rốt ráo.

Một lý do trọng yếu và thực tế, gần gũi là tu hành phải đạt đến giác ngộ (ngộ tánh) thì mới có diệu lực cho hành giả dứt khổ, an vui, tự tại giải thoát. Chính vì những lý do căn bản và quan trọng trên cho nên hành giả tu Thiền, phải ngộ tánh, đặt việc này lên hàng đầu. Do đó, nói đến Thiền tông là nói đến ngộ tánh.

  1. 4.     NGỘ LÀ NGỘ KHÔNG CHỖ ĐƯỢC

Đức Phật dạy: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đức Phật thành Phật là viên thành cái đã sẵn (tâm tánh). Chư Tổ chứng ngộ cũng chính là nhận lại cái đã sẵn này. Chúng sanh mê là quên tâm này. Khi ngộ, liền đó đồng tâm thể chư Phật. Nhờ sẵn có cội nguồn này cho nên chúng ta tu hành mới có ngày bừng ngộ. Tu hành là cốt nhận lại tự tâm vốn sẵn này, mới dứt mê, hết khổ, tự tại, an vui, đạt đến giải thoát.

Ngộ, là bừng ngộ tánh mình; là bất ngờ trả lại chính nó, chứ không phải ngộ ra cái gì đó bên ngoài. Mê và ngộ như nhắm mắt và mở mắt, không có chặng giữa.

Chúng sanh mê muội là do quên tự tánh này. Từ đây lầm chấp ngã và ngã sở. Cụ thể, khi quên tự tánh, liền chấp năm ấm làm mình, thầm thầm thấy có một cái được gọi là ngã rồi chấp lấy, cho là ta. Khi đã có ngã thì sẽ có ngã sở, những thứ thuộc về của ta (nhà cửa, tài sản, quan điểm…), từ đó dính nhiễm, chấp trước. Chấp ngã trước, kế đến mới dính mắc, tạo nghiệp, đi vào luân hồi sanh tử chịu các khổ não. Khi tu, nhắm thẳng vào hai đối tượng ngã và ngã sở để kiểm điểm, hàng phục.

Phật Tổ chỉ dạy tuy nhiều, nhưng tựu trung không ra ngoài hai phạm trù ngã và ngã sở này để khéo tu tập, hóa giải. Một mặt dẹp ngoài, tránh duyên (ngã sở), không để dính nhiễm. Mặt khác phải khéo buông bỏ bên trong (bản ngã), không chấp trước. Đây là việc tạm làm khi mê để hỗ trợ cho mục đích dụng công “nhận lại tự tánh”. Một khi tánh này bừng ngộ, tất cả tự vắng bóng, chỉ còn một tánh sáng sạch, lặng trong, tự tại giải thoát.

Muốn vậy, hành giả phải khéo dụng công. Tất cả phải được đặt nền tảng trên “sức giác sáng của tự tánh”. Trước hết, phải sáng lại tánh mình, không can thiệp trên bất cứ gì thì mọi thứ tự mất giá trị chi phối và tiêu dung. Khéo buông thư, bình thường, không tạo nên một dấu vết gì trong tâm. Ngay khi bặt vết mà không mê thì tánh tự sáng biết, chứ không phải lập nên một cái biết gì cả.

Một cách cụ thể hơn: Trong không trụ căn bản (Không phải chăn tâm, không kềm giữ tâm, không thấy có tâm để gìn giữ). Ngoài không trụ các trần (Không dừng trụ vào bất cứ gì, mà suốt qua tất cả). Như thế, trong ngoài vắng bặt, chỉ còn một tánh sáng ngời, mặc tình biết khắp.

Thiền sư Đại Châu Huệ Hải nói: “Ngộ là ngộ không chỗ được”. Như trên vừa nêu, trong ngoài đều dứt bặt. Ngay khi không chỗ được (Bặt tất cả) thì tánh tự hiện bày, tức đã ngộ.

Như vậy, ngay khi trong không trụ căn bản (Không thấy có tâm tánh để giữ); ngoài không dừng trụ vào bất cứ đâu, hay vật nào. Liền đó, không chỗ có thể được (Bặt hết tất cả), tánh tự hiện bày (Đốn ngộ).

5. CHÍN CHẮN DỤNG TÂM

Thực tế đã có nhiều vị buổi đầu công phu do chưa kinh nghiệm cho nên chưa khéo dụng tâm. Có lúc thì xoay vào trong để tìm tâm, tức đã thấy có cái tâm để tìm. Lúc thì nhằm trên thấy biết các cảnh để tìm cái biết. Do tìm tâm bên ngoài và cố dụng công như thế cho nên nhọc nhằn mà không có kết quả. Sau đó điều chỉnh lại, công phu đúng, sáng lại tánh mình mà không còn tìm cầu hay tạo tác gì. Bỗng có lúc bất ngờ sáng ra, thấy rõ bản tâm tự hiển hiện, sáng ngời, không can hệ đến ai hay bất cứ gì, mà mình và người (các cảnh) không phải hai. Tất cả tự nó rạng ngời, rõ ràng và vượt thoát như thế. Đây là nhờ công phu đúng, đã đắc lực, khế tự tánh, cho nên tánh tự sáng ngời.

Mình và cảnh không phải một: Tức là thấy tất cả rành rẽ rõ ràng mồn một, nhưng không can hệ gì nhau. Tất cả không chạm đến được tánh ấy.

Cũng không phải là khác: Tất cả hiện bày, không hai, nhưng vẫn tự như như.

Ngay đó, nếu trong không trụ căn bản (Không có khái niệm là tâm như thế nào đó để gìn giữ); ngoài không trụ các trần, không tìm biết thêm gì, thì tánh này tự nó mặc tình thênh thang, bàng bạc, biết khắp. Do lần đầu mới nhận ra, chưa khéo sống, do đó vị này nói: “Thấy biết bằng tánh thấy nghe, tánh biết; trên các cảnh, tánh biết hiện rõ ràng”. Như thế vô tình đã biến mình còn khoảng cách với tự tánh, chưa ngộ tột.

Khi nghĩ: “Thấy biết bằng tánh thấy nghe, tánh biết”, vô tìnhđã đưa tự tánh trở về giới hạn trong tánh thấy, tánh biết còn hạn hẹp tại các căn. Đây chỉ là mặt trăng thứ hai, chưa phải trăng thật. Như vậy, đã đánh mất đi tự tánh bàng bạc, thênh thang, vô tướng mà tự biết khắp.

Và nghĩ: “Trên các cảnh, tánh biết hiện rõ ràng”, vô tình giới hạn lại sự sáng biết của tự tánh đã nhận. Tức là chỉ nhận tánh biết và thông qua cảnh để nhận tánh biết ấy, chứ không phải tâm tánh tự thênh thang, biết khắp.

Chỉ cần có cái nhìn đúng, khéo dụng tâm: Đừng quan niệm tánh nghe, tánh biết, mà không tất cả các tâm, bặt dấu vết. Đồng thời, đừng nhận tánh biết thông qua các cảnh, mà suốt qua, không dừng trụ. Ngay đó, tánh tự thênh thang, trùm khắp.

Với hành giả chưa ngộ, còn trong quá trình dụng công thì tâm phải luôn luôn dứt bặt trong ngoài như thế, luôn sẵn một tánh giác sáng rạng ngời, chứ không phải đợi gặp duyên hay có vọng mới giác (Bởi nếu như thế sẽ vô lực, không kịp để làm chủ). Theo thời gian, công phu sẽ thuần thục, được đắc lực, lực này sẽ giúp cho chúng ta làm chủ cuộc sống. Khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng ngộ, sẽ hay ra trong ấy đã sẵn một tâm an lạc diệu thường, vô biên, khôn tả xiết.

  1. 6.     KẾT LUẬN

Chúng sanh mê muội bởi quên tâm tánh này. Do đây, lầm chấp ngã và ngã sở, bao nhiêu đau khổ từ đó có ra. Trở lại tánh mình, tất cả vọng tập phiền não tự vắng bặt, chỉ còn một tánh sáng sạch, lặng trong, lạc an, nơi nơi không ngăn ngại. Mới biết, tu hành chỉ cốt trở lại “cái lõi” thì Phật pháp là tất cả hiện thành.


VƯỢT KHỎI NĂNG LỰC CẢM NGỘ

Tất cả chúng ta đều sẵn Phật tánh, cũng gọi ông chủ, chân tâm… Bởi vọng tình che khuất cho nên tạm thời bị ẩn, không hiển lộ. Hành giả công phu đắc lực, chợt bừng ngộ, liền đó hay ra.

Song, ngộ tánh không chỉ một lần, mà thường trải qua nhiều lần mới thấu triệt. Hành giả buổi đầu bừng ngộ, hoặc có vị công phu đắc lực nhưng chưa đạt ngộ, sẽ được năng lực tự tánh thôi thúc, khiến tự thấy rạng ngời và thanh tịnh một cách mạnh mẽ lạ thường. Có vị rơi nước mắt, có người cười mãi không thôi, hoặc có hành giả tung tăng nhảy múa… Tất cả đều do sự cảm ngộ buổi đầu, năng lực của tự tâm thôi thúc.

Chỗ tột cùng của đại đạo vốn bình thường, trở lại chỗ như cũ nhưng không một vết mê. Thiền sư Huệ Hồng dẫn lời Thiền sư Triệu Châu: “Hết thảy chỉ như cũ. Các bậc Thánh từ trước không có ai chẳng từ trong chỗ như cũ mà được.”[10] Quý ngài thấu triệt, đồng về trong ấy. Khi hỏi gia phong, Sơ Tổ Trúc Lâm nói: “Áo rách che mây sáng ăn cháo, bình xưa tưới nguyệt tối uống trà”, chính là điền địa này. Bất kỳ một dấu vết nào còn sót lại, đều chưa đạt đến rốt ráo.

Nếu theo năng lực cảm ngộ buổi đầu thôi thúc, hành giả thường làm những việc khác thường, chư vị Tổ đức thường quở là “Cuồng thiền”. Ở giai đoạn này, cũng có nhiều biểu hiện mạnh yếu khác nhau. Có vị không muốn đọc sách, không cần tọa thiền, nhưng vẫn sáng tỏ, rạng ngời. Nhiều vị không còn muốn ngữ nghĩa, chỉ thích tọa thiền, cảm thấy tâm lực mạnh mẽ và hoan hỷ lạ thường… Tất cả đều cho thấy sự tiến bộ đáng khích lệ trong công phu. Tuy nhiên, nếu không phấn phát cầu tiến, không gặp thiện tri thức khai phá, hoặc không biết cách tiến thêm, thời gian sau vẫn thường bị bệnh trong công phu, sanh các chướng ngại và lui sụt.

Hoặc là cho mình đã chứng, sanh ngã mạn, khinh thường tất cả rồi phải chịu các báo chướng. Có người đạt được chút lý giải về diệu lý mà ngỡ mình đã chứng ngộ. Sẽ đến lúc tâm bị loạn động trở lại quá sức tự chủ mới nhận biết. Lúc này đã rơi vào bệnh thiền, phải mất nhiều thời gian và công sức để điều trị rất vất vả. Có vị thích ngồi thiền và chỉ ngồi mới an, xả ra thấy trong người yếu, bất ổn… Và còn nhiều biến tướng khác. Đây là do chấp vào năng lực cảm ngộ mạnh mẽ của buổi đầu rồi cho là đã chứng đắc, không cầu tiến thêm, cho nên dẫn đến bị bệnh trong công phu. Do vậy, chư vị Tổ đức thường khuyên hành giả phải vượt khỏi sự thôi thúc mạnh mẽ của tâm để tiến thêm, không nên được ít cho đã đủ.

Việc tu tập ngộ tâm không ai giống ai. Nhưng tựu trung nằm trong hai khả năng. Hoặc ngay đây nhận thẳng tự tánh. Hoặc tu tập gạn đục khơi trong. Hành giả một nhảy thẳng vào đất thật Như Lai thì không có bất kỳ nghi ngờ và chướng ngại nào trong ấy. Ngược lại, con đường khởi đầu bằng cách hàng phục vọng tâm, tức đã chưa khéo nhận thẳng tự tánh thì thường trải qua các giai đoạn thuần tịnh, sẽ đến lúc năng lực của tâm thôi thúc quá mạnh như vừa nêu trên. Công phu đến đây được coi đã có bước tiến đáng kể. Nhưng không nên bám chấp vào cảnh giới ấy mà phải phát tâm cầu tiến thì mới đạt đến rốt ráo viên mãn.

 


 

KHÔNG LÀM GÌ CẢ

Chúng sanh do mê nên bị sai lầm, rơi vào các vọng, bất ổn. Tu hành cốt yếu phải giác ngộ, tức nhận lại bản tâm, các vọng tự sạch, dứt mê mờ.

Tâm tánh vô tướng, vốn tự sẵn sáng lâu rồi. Ngộ là trả lại chính nó, bất ngờ sáng ra. Muốn trở lại, phải khéo dụng công khế với tự tánh, mới có lúc bừng ngộ.

Người không thể một nghe liền ngộ thì phải có phương pháp thực hành một cách căn bản, quyết chí dụng công, mới mong tiến đạo. Tuy nhiên, phải khế với tự tánh vô sanh, mới đắc lực. Cụ thể ngay đây, khéo sống về bằng tự tánh giác sáng vô tướng, không mê mờ, không tạo tác, công phu tương ứng, sẽ tiến mạnh.

Nếu hành giả có kinh nghiệm, sẽ quét sạch dấu vết của tâm bằng cách buông thư, bình thường mà không mê, sống thẳng đó, sức giác sáng tự mạnh, thênh thang. Cụ thể, không nghĩ rằng đang tu hay không tu, cũng không phải để mặc kệ hay thư giãn… Tất cả đều không phải, chỉ là buông thư, bình thường để cho tâm không rơi vào dấu vết nào cả; ‘không làm gì cả’ nhưng sáng ngời, không mê, ngay đó tự khế hợp bản tánh, là đang công phu miên mật. Khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh tự bừng ngộ, mới hay ra, tánh tự vô sanh, đã sẵn vậy từ lâu lắm rồi, không cần làm thêm gì trong đó.

Phần đông chúng ta vì quá nhiệt tâm cho nên khi tu hành muốn phải tu như thế nào đó, phải làm gì đó mới chịu. Nhưng càng như thế thì lại rơi vào tạo tác sanh diệt, càng đi ngược với tự tánh vô sanh vốn sẵn, nên sự tiến bộ còn khiêm nhường, giới hạn.

Hằng ngày nếu phải làm như thế nào đó mới được xem là tu, tất nhiên cũng có những lợi lạc nhất định. Nhưng đó là lúc chúng ta còn khỏe, còn trong điều kiện cho phép thì mới có được những lạc an như vậy. Khi ở vào hoàn cảnh hoặc tình huống quá sức chịu đựng của bản thân, tất cả những kết quả trên đều tan biến, không cứu mình được. Khó khăn hơn, nếu lâm vào trường hợp bị sốc với thành phần thuốc, con người bị bức ngặt; hằng ngày luôn ‘phải làm gì đó, tu như thế nào đó’, công phu ấy lúc này bị vô lực, không thể ứng dụng được. Đây là sự thật và đã có người từng lâm vào tình trạng này. Mới thấy, cách dụng công ‘phải làm gì đó, tu như thế nào đó’ hãy còn nằm trong giới hạn, chưa suốt tột đến chỗ phi thường của đạo lý rốt ráo, chân thật.

Ngược lại, hành giả lúc nào cũng ở vào tâm thể giác sáng rõ ràng, bặt dấu vết, không mê, ngay đó đã vô tác, tức là ‘không làm gì cả’. Lúc này tâm tự trùm khắp, thấy biết tất cả mọi thứ chung quanh đang diễn ra, nhưng lại vượt thoát tất cả. Dụng tâm như thế sẽ không có tướng trạng công phu, nhưng tâm tự rạng ngời, thì chính là hành giả đang tu hành hết sức miên mật. Hằng ngày thực hành như vậy, sẽ quen ‘không làm gì cả’ thì trở lại tự tánh, tức đang tu, tâm lực sẽ rất mạnh, trí tuệ sáng biết hiện tiền. Đến khi lỡ gặp nguy kịch như bị sốc thuốc do dị ứng, bức ngặt, ngạt thở, hành giả đã có lực dụng mạnh, trí tuệ sáng biết và quen ‘không làm gì cả’ đã thuần thục cho nên lúc này cũng ‘không làm gì cả’ như trên, sẽ tự an trong tự tánh chính mình, không cần phải làm thêm gì cả. Đã ở trong tự tánh thì tất cả tự vượt thoát, lặng trong; nhận biết mọi thứ bức ngặt rõ ràng mà do vượt thoát thân tâm này cho nên những khó khăn kia không làm cho hành giả khó chịu. Đến lúc sắp từ giã cõi đời, nếu phải chịu những ép ngặt, đớn đau thì hành giả cũng ‘không làm gì’ như vậy, ngay đó tự an ổn, biết đường đi.

Đặc biệt, với các hành giả không phải trực nhận tự tánh mà dụng công theo cách hàng phục vọng tưởng phiền não để nhận bản tâm, sẽ phải đạt đến chỗ thuần tịnh. Lúc này do chưa ngộ tánh cho nên căn thức sẽ vi tế, sẽ tự biến hiện nhiều tướng không phải do mình chủ động. Nếu cố ‘làm gì đó, tu như thế nào đó’ để vượt qua thì không thể. Nhưng để mặc kệ, không tu thì cũng không tiến thêm. Nếu vị nào có kinh nghiệm trong công phu ‘không làm gì cả’ một cách thực sự, không mong các tướng ấy còn, cũng không cần nó hết, không can thiệp gì trên chúng, chỉ là sáng lại tánh mình thì các biến hiện trên tự mất lúc nào không rõ. Mới thấy, đây là công phu đặc biệt và rất cần thiết.

‘Không làm gì cả’ là một cách dụng tâm chứ không phải lười biếng, hời hợt hay công phu theo kiểu thả tâm lãng đãng, bồng bềnh, trôi nổi. Hành giả phải hết sức khéo léo và có kinh nghiệm trong việc hạ thủ công phu sẽ thực hành được. Chưa thể như thế, sẽ rơi vào tạo tác hoặc ngoan không và nhiều ngã rẽ khác, khó tiến đạo.

 


TIẾN THÊM

 

Thiền là danh từ chỉ cho bản tâm thanh tịnh sáng biết nơi mỗi người. Chúng sanh do quên tâm mình nên bị mê mờ, rơi vào loạn động sanh diệt, khiến sai lầm, chịu khổ. Muốn hết khổ, chỉ cần trở lại tâm Thiền. Bởi tâm ấy vốn sẵn đầy đủ diệu lực cho chúng ta tự vượt thoát tất cả, các khổ vui trong đời không đến kịp. Con đường vào Thiền nhận lại bản tâm tựu trung có hai lối. Hoặc là ngay đây trực nhận. Chưa thể như thế thì khéo dụng tâm tu tập dần.

Hành giả thực hành Thiền cần trải qua các bước căn bản để được suốt thông, rỗng rang, tu tiến, không bị các trở ngại. Ban đầu phải biết điều thân, điều tâm, dụng công trên cảnh tịnh và cả trong các sinh hoạt, cảnh động. Các bước này thực hành một cách có căn bản, kỹ lưỡng, sẽ hỗ trợ cho việc tiến đạo. Ngược lại, nếu qua loa, cẩu thả, chắc chắn sẽ bị chướng ngại, có khi không thể tiếp tục hành Thiền. Tuy trải qua nhiều giai đoạn thực hành khác nhau, nhưng tất cả đều có chung một quy tắc chính là phải khéo buông xuống, buông thư để thân tâm rỗng rang, rỗng suốt, có khi là rơi rụng, vỡ vụn. Tiếp theo đó, hành giả khéo dụng tâm, đảm bảo là đang giác sáng – an nhiên. Nếu giác sáng mà thiếu an nhiên, sẽ bị căng thẳng. Nếu an nhiên nhưng sức giác sáng yếu thì dễ vô ký, hôn trầm. Cần khéo ngay một tâm buông thư, bình thường, an nhiên, giác sáng, sống thẳng đó là đang dụng công. Bởi khéo sống như thế là đang khế với tự tánh vô sanh – sáng biết trùm khắp. Có khế hợp như vậy mới có lúc tánh này bùng vỡ, cho ta diệu lực bất khả tư nghì[11].

Cứ thế, luôn sống trở về tự tánh giác sáng như thế để tu hành. Trên bất kỳ cảnh tịnh hay cảnh động nào, hành giả cũng luôn buông thư, trở lại tâm mình để hạ thủ. Nhưng có thời điểm phải đối diện với quá nhiều các công việc từ sáng đến tối, trải qua nhiều ngày khiến chúng ta quá tải, hoàn cảnh không cho phép mình có điều kiện để buông thư tỉnh lặng như trên thì phải tu làm sao? Đây là việc cần biết để tiến thêm.

Bởi công phu như trên chỉ là những bước chập chững trong thời kỳ còn tập sự. Nếu dừng ngang đó, hành giả chưa nếm được diệu đạo bình thường mà phi thường đã sẵn nơi chính mình. Do vậy, khi công phu tương đối thuần thục, hoàn cảnh đẩy đưa chúng ta đến chân trời mới với bài tập khó hơn để có cơ hội tiến thêm. Cụ thể lúc này, hành giả không cần khởi tâm thêm bớt, tiến tới hay thụt lùi. Có nghĩa, ‘không nghĩ là có thêm nữa mình vẫn vậy’ hoặc ‘muốn bớt duyên’ để mình buông thư, an nhiên, dễ dụng công. Đồng thời, cũng không luôn cả tâm ‘đón nhận’ hoặc khởi tâm ‘để mặc kệ’. Sẽ có lúc bỗng nhiên trả lại tự tánh mặc tình biết khắp. Tánh tự sáng rỡ, rạng ngời. Lúc này, công việc là công việc, mình là mình, hai bên không can hệ gì nhau nhưng rành rành rỡ ràng trong nhau. Chỉ cười thôi! Tuy thấy rõ việc và mình mà không phải khởi tâm động niệm thấy có hai tướng công việc và mình. Cứ thế mà sống, không khởi gì thêm dù là chân tâm hay Phật tánh. Dám đẩy mình vào chỗ không còn an toàn như thường ngày, mới có lúc tâm tự vụt thoát. Đây chỉ là gợi ý, muốn đến trong ấy thì mỗi vị phải tự mình dám thực hành. Bởi việc này không nằm trên lý thuyết, học hiểu.

Nói là tiến thêm tức nỗ lực để tiến thêm cho đạt đến rốt ráo viên mãn tâm tánh giác ngộ chính mình, không phải hài lòng an yên vào bất cứ điền địa nào. Bởi có một nơi an ổn, một nơi để tránh lìa, tức còn ngăn ngại, chưa khế Phật đạo, chúng ta chưa được tự tại, chưa thực sự thoát khỏi sự chi phối của sanh tử, khổ đau. Là người có duyên với việc hướng thượng, sẽ không ngại khó khăn và tiến tới, bởi việc này trong tầm tay mỗi người.

 


ĐANG SỐNG

 

1.   THẾ NÀO MỚI PHẢI?

“Đời là vô thường, tất cả đều huyễn hóa, mạng sống trong hơi thở, mong manh… Hôm sau biết có còn sống hay không mà lo Phật sự? Ngày mai nếu chết thì còn Phật sự nào mà làm?” Sự thật là như vậy.

Nhưng một thuyết khác thì cho rằng: “Nếu không lo Phật sự thì làm sao Phật pháp được truyền trì, tông phong được tiếp nối, chánh pháp được lưu truyền rộng khắp để cứu khổ người sau?”. Thuyết này cũng rất chí lý.

Cả hai thuyết đều có lý, nhưng lại trái ngược nhau. Một bên thì thấy không có gì quan trọng để làm, bên còn lại thấy phải có trách nhiệm và cần làm tất cả. Phải theo bên nào?

2.  TÙY CƠ VÀ RỐT RÁO

Theo bên nào cũng đều không phải. Lỗi tại theo.

Cốt lõi của việc tu hành phải đạt đến giác ngộ giải thoát. Nhận lại tánh mình là ngộ được ‘cội nguồn giác ngộ’. Từ tự tánh ấy, cho hành giả ‘thấy biết giác ngộ’. Nhưng một đôi khi chúng ta bị rơi vào hai thái cực: Hoặc lăng xăng loạn động tạo tác sanh diệt mà bỏ mất bản tâm; hoặc là công phu quá cố chấp rồi ngồi không, rơi vào trầm không trệ tịch, chưa phải chỗ tột cùng của Phật pháp. Do đó, tùy vào mỗi bệnh mà chư Thiện tri thức có những khai thị khác nhau cho phù hợp từng căn cơ.

a.  Chấp bên ngoài

Thông thường khi chưa biết tu, chúng ta sẽ cho thân tâm sanh diệt cùng muôn sự muôn vật là thật, là mình, nên bị trói buộc. Người đã vào đạo, nếu không chuyên tâm, cũng bị các pháp hữu vi lôi kéo. Đôi khi do quý mến đạo, nhưng lại quá quan trọng vào công việc, đánh mất công phu, cũng bị chi phối, chưa vượt khỏi trần lao. Đến như những hành giả quyết chí dụng công, nhưng lại chưa khéo dụng đến chỗ ‘không chỗ dụng’ nên bị kẹt trên phương pháp hành trì, thấy có mình dụng công, có chỗ hạ thủ, có sở đắc, còn có dấu vết của tâm… tất cả đều chưa rời tướng, sẽ mê tâm, công phu không đắc lực.

Với những căn cơ như vậy, chư Thiện tri thức sẽ nhắc cho biết mạng người mong manh, các pháp không thật, hễ cái gì có tướng đều là huyễn hóa. Hành giả được đánh thức, dừng lại, phản quan, trực nhận trí giác.

b.  Kẹt bên trong

Lục Tổ dạy: “Này Thiện tri thức, đạo phải thông lưu, do đâu trở lại ngưng trệ, tâm không trụ nơi pháp, đạo tức là thông lưu. Tâm nếu trụ pháp gọi là tự phược, nếu nói thường ngồi không động, ấy chỉ như ngài Xá-lợi-phất ngồi yên trong rừng lại bị ngài Duy-ma-cật quở trách. Này Thiện tri thức, lại có người dạy ngồi khán tâm quán tịnh, không động không khởi, từ đây mà lập công khóa, người mê không hiểu liền chấp thành ra điên cuồng; những người như thế này thật là đông, dạy nhau như thế, nên biết đó là lầm lớn”.

Hoặc ngài nói: “Nếu chỉ trăm vật chẳng nghĩ, niệm phải trừ hết, một niệm dứt tức là chết, rồi sẽ sanh nơi khác, ấy là lầm to”.

Đây là hành giả vì quá ham tu, nhưng không khéo dụng công, rơi vào ngoan không, đoạn diệt, sẽ không thể thấu triệt tự tánh, chư vị Tổ sư chỉ điểm để tiến thêm. Kinh nói, các bậc A-la-hán nếu một bề an trú trong Niết-bàn tịch tịnh, sẽ là bậc ‘Bất hồi tâm A-la-hán’, chưa thể tiến lên Phật quả.

Sau khi đại ngộ nơi Thiền sư Niệm ở Thủ Sơn, Thiền sư Thiện Chiêu dừng lại hầu hạ thời gian rất lâu. Sau, Sư từ tạ Thủ Sơn ra đi. Quan Thái thú dùng đủ cách cố thỉnh ở lại cho bằng được, Sư vẫn một bề từ chối, ban đêm lén trốn đi. Đến Tương Miện, Thái thú Lưu Công Xướng tám phen thỉnh trụ trì Động Sơn, Sư lặng lẽ chẳng đáp.

Sau khi Thủ Sơn viên tịch, Tăng và cư sĩ ở Tây Hà họp lại hơn ngàn người đồng tâm cử Sa-môn Khế Thông đến thỉnh Sư trụ trì viện Thái Tử chùa Thái Bình ở Phần Dương. Sư đóng cửa nằm yên không tiếp, Khế Thông xô cửa vào thưa: “Phật pháp là việc lớn, lui ở yên một chỗ là giữ tiết nhỏ. Hòa thượng Phong Huyệt sợ ứng với lời sấm ký lo tông chỉ diệt mất, may còn có Tiên sư nối nắm. Nay Tiên sư đã tịch, Thầy là người có khả năng gánh vác đại pháp của Như Lai, mà cam nằm ngủ yên sao?”.

Sư hoảng sợ, đứng dậy nắm tay Khế Thông bảo: “Nếu không phải Thầy, tôi làm gì được nghe lời này. Chỉnh trang hành lý, tôi cùng đi vậy.”.

Chưa sáng việc lớn, phải một bề quyết tâm phát minh đại sự. Khi đã bảo nhậm, viên dung, cần quan tâm đến đại pháp, vì người sau. Nếu còn thấy mảy may ngăn ngại, ưa thích chỗ an yên thì chưa phải là bậc đại khí này.

Tóm lại, với hành giả chỉ một bề an yên trong cảnh tịnh, Phật Tổ sẽ dùng cảnh động để khai thị. Cụ thể, chư Thiện tri thức thường dạy phải dấn thân vào Phật sự để sống động trong sai biệt, nhưng vẫn bất động, mới phát huy đại dụng, đạt đến viên dung, tiêu sái, tự tại không ngăn ngại.

c.  Không kẹt hai bên – Đang sống

Rõ ràng hai thuyết đã nêu trên đều đúng, nhưng chỉ là đối cơ, tùy cơ mà nói chứ không phải lời dạy rốt ráo, chỉ thẳng tự tánh, không vì một nhân duyên gì mà nói. Nếu bảo ‘Ngày mai chết rồi, có Phật sự gì để làm?’ thì tại sao không thấy ‘Hiện nay đang sống?’. Hành giả đạt ngộ tự tánh, tánh tự vượt thoát căn trần, hay ra vào tất cả nhưng vẫn không thấy có tướng ra vào, các duyên không đến kịp thì chết sống không chạm đến được sức sống ấy; đây là ‘hiện nay thực sự đang sống’. Dù hôm nay đang còn sinh hoạt hay ngày mai có chết đi, cũng chỉ có thế, nào dính dáng gì, thì chỉ là ‘hiện nay đang sống’. Vượt cả hiện tại và ngày mai thì nói gì đến sống và chết! Hôm nay đang sống như thế thì sống động nhưng bất động. Một đời sống lạc quan, tích cực, rạng ngời, không động, đích thực một sức sống đạo. Đây là chân lý rốt ráo, chắc thật, hiển hiện như thế; là lời nói thật ngữ chứ không phải ngôn thuyên vì đối cơ để phương tiện nói.

3.  CHỈ LÀ BÌNH THƯỜNG – ĐANG SỐNG

Ngày mai rời Tu viện Chơn Không, Vũng Tàu, nhưng hôm nay Hòa Thượng Tông chủ[12] vẫn chăm cây, tưới cảnh. Có vị thưa:

- Bạch Thầy! Ngày mai mình đi rồi, trả lại núi rừng hoang dã, đâu cần chăm bón làm gì?

Hòa Thượng bảo:

- Bởi nó cần mình. Ngày nào còn ở thì phải chăm sóc.

Khi không còn đạt được mục đích, bản chất thật của mỗi người sẽ hiện nguyên hình. Phàm tình hay trí giác, chỉ ngay nơi các việc làm thường ngày như chăm hoa tưới kiểng để nhận diện.

Thích hoa kiểng nên ươm trồng, chăm bón. Bên dậu hoa mãn nhãn, thỏa thích uống trà, thưởng nguyệt, nghênh phong. Là hoa làm vừa lòng mình, vì bản thân mình cho nên mới tỉa cành, tưới tẩm. Khi phải rời xa, mai này không còn thưởng thức nữa thì hôm nay không phải mất công chăm sóc. Là vì mình, không phải vì hoa. Đây là thường tình trồng hoa.

Vì trang nghiêm Tam Bảo hay làm tăng thêm sức sống cho một nơi công cộng nào đó nên trồng hoa. Vì cây hoa đã được trồng và vì lợi ích cho nhiều người thưởng ngoạn, chúng ta chăm bón. Hoa cần mình cho nên ngày nào còn có thể được, mình cần mẫn tận tâm như bao lâu nay đã từng sống với nó. Là vì hoa, vì mọi người, không có bóng dáng ‘mình’ trong đó. Đây là người có tâm rộng lớn trồng hoa.

Tuy nhiên, nếu hành giả khéo dụng tâm, sẽ không vì gì cả. Tuy rõ ràng rành rành, nhưng vẫn không phân biệt ta và người, tâm và cảnh. Trồng hoa là trồng hoa, tưới cây là tưới cây, hành giả không thấy vì bất cứ gì. Nếu còn mảy may thấy ‘vì’, tức đã kẹt tướng, mê tâm.

Trong đây, không cần phân tích nghĩa lý dông dài, sẽ rơi vào vọng. Chỉ là vắng bặt, rạng ngời, đất trời cùng ta không khác. Cây tươi cỏ lạ, toát lên sức sống diệu kỳ. Chúng ta đang sống thực sự.

 


 

KHÉO DỤNG TÂM 

1.   KHÁI QUÁT

Thực tế cuộc sống của mỗi người, bên ngoài là bản thân tiếp xúc với các tình huống, hoàn cảnh. Bên trong thì chính mình đối diện với các tâm tưởng của mình. Cuối cùng, mang lại kết quả như thế nào đều do tâm của chúng ta quyết định. Tâm thiếu sáng suốt, không tự chủ thì hành xử, tạo tác mang lại khổ đau. Nếu biết lựa chọn và hướng tiến đúng đắn, sẽ đưa đến an vui hạnh phúc. Và hành giả khéo tu tập thì đạt đến tự tại giải thoát. Việc hạ thủ công phu cũng ngay trọng tâm rất thật ấy.

Khi sống, bàn bạc, làm việc, thường lưu lại trong đầu những tư tưởng nghĩ suy. Đúng ra, chúng chỉ là những bóng dáng không thật. Nhưng do chúng ta chưa đủ tỉnh lực, có khi là lầm chấp cho nên những ảnh ảo kia lại có tác dụng chi phối, khiến con người bất ổn, khổ đau. Muốn giác ngộ giải thoát thì phải biết cách hàng phục, vượt thoát. Hành giả dụng công chính tại chỗ này.

2.  DỤNG TÂM CHƯA KHÉO

a)  Đối diện

Khi tiếp duyên xúc cảnh, nếu cho rằng phải đối diện để chuyển hóa thì vô tình tạo thành khái niệm đối diện và can thiệp trên tướng, tức đã phan duyên. Hễ có khái niệm tức tâm tưởng đã có, ngăn cách chân tâm. Khi vừa phan duyên thì thức mê đã sanh, do đó sẽ tự nhiễm trước. Chỗ này sâu kín. Hành giả phát hiện các dính mắc để buông thì chỉ là thấy những kết quả đã dính mắc rồi. Căn nguyên là thức bên trong nó tự động dính mà không cho chúng ta biết. Nếu không khéo, việc tu tập buông xuống cũng chỉ buông được phần nổi. Còn phần sâu kín bên trong của thức mê này thì buông như thế không thể sạch được. Đây là lý do dụng công nhiều, nhưng kết quả thì khiêm nhường, không như mong đợi, buông mãi mà chúng vẫn cứ còn hoài.

b)  Đè nén, tấn công niệm

Đè nén, không cho niệm khởi thì cũng giống như dùng đá đè cỏ, không mọc chỗ này sẽ chuyển hướng sang chỗ khác. Hoặc có khi dùng sức giác mạnh để tấn công tìm đến tận cùng của vọng tưởng là gì. Hành giả dụng công bằng các phương cách trên sẽ cảm thấy mình có tu tập nhiều cho nên có cảm giác thỏa mãn. Ban đầu tâm sẽ tạm lắng và có kết quả nhất định. Nhưng một thời gian sau sẽ xảy ra nhiều tác dụng phụ nguy hiểm. Điển hình như căng thẳng, mất ngủ, dễ bực bội, cáu gắt, đau đầu, ngực nặng khó thở, lưng căng cứng và nặng như có tảng đá đè lên, hoặc trạo cử nhúc nhích không yên, không tọa thiền được... Cuối cùng không thể tiếp tục công phu.

c)   Lảng tránh, phớt lờ

Cố tình lảng tránh, phớt lờ thì có thể tránh được cảnh ngoài. Nhưng như thế đã vô tình thầm cho cảnh là thật, nó có giá trị để mình phải sợ và né tránh. Vì thế, ngay khi nhắm mắt quay lưng thì hình ảnh của chúng đã in vào trong đầu rồi, tránh đâu cho được.

Hơn nữa, cách thực hành như trên cũng gần với bệnh nhậm, tức để mặc tình, mặc kệ. Khi muốn để mặc tình, mặc kệ, tức đã rơi vào khái niệm, vẫn chưa lìa niệm. Mà hễ còn một niệm nào đó thì bản chất cũng giống với tất cả niệm. Bởi còn trong thức mê thì niệm còn có cơ sở để tồn tại. Chúng ta có thể dùng phương pháp lảng tránh hoặc mặc tình để cho qua một vài tâm tưởng nào đó, nhưng điều đó không có nghĩa là sạch hết tất cả vọng niệm nên không có giá trị. Bởi nếu còn các niệm khác thì vẫn còn y nguyên trong mê cho nên giá trị chi phối cũng tương tự, không hết khổ và an vui tuyệt đối. Quan trọng là phải biết diệu chỉ hàng phục tất cả niệm đều không, mới đạt đến giác ngộ giải thoát. (Sẽ nói rõ tại mục ‘Khéo dụng tâm” ở sau).

Bên cạnh đó, cách dụng công này dễ đưa hành giả rơi vào trạng thái gần với vô minh; như là tâm tưởng lơ lửng, mênh mang, nhận biết mọi vấn đề kém... không hợp đạo.

d)  Dùng cái biết mạnh để ngự trị và tiêu diệt vọng tưởng

Không quan tâm đến vọng tưởng, hành giả chỉ đề lên cái biết thật mạnh thì vọng tự rút lui, chỉ còn toàn cái biết. Tiếp tục duy trì cái biết mạnh thêm thì nó sẽ ngự trị và chiếm lĩnh hết không gian của tâm, không còn chỗ cho vọng tưởng dấy khởi. Lúc này, trong tâm thấy an và sáng biết mạnh, không vọng hoặc vọng chỉ thưa và yếu ớt, hành giả ngỡ rằng chân tâm hiện tiền, vọng đã được hàng phục. Nhưng thực sự thì chưa phải.

Kết quả thực tế là đến khi bệnh nặng hoặc thân và tinh thần quá yếu sắp lâm chung thì tất cả sinh hoạt trong đời bỗng cùng lúc ùa về như một cuốn phim, không hề mất. Nó cuộn trào, dồn dập tới tấp, rất nhanh và mạnh, đến độ khiến chúng ta rối loạn, mất kiểm soát và sợ hãi. Như thế, sẽ bị nghiệp dẫn dắt đẩy vào luân hồi trong bất lực. Đây là sự thật đã có hành giả kinh qua.

Bởi cái biết được lưu xuất từ chân tâm không phải như vậy.

Thiền sư Nam Tuyền nói: “Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi. Ví như hư không thênh thang, rỗng rang, đâu thể gắng nói phải quấy?”.

Biết là đối lại với chẳng biết; đây là thuộc về đối đãi, do đó, cái biết này thuộc về vọng giác, chưa phải đạo. Đúng là đạo thì chân tâm tự thênh thang biết khắp, nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại, chứ không phải chỉ có cái biết trước mặt, có chỗ nơi. Nếu lập nên một cái biết như thế nào đó, hoặc đề lên cái sáng biết cho mạnh là đang tạo tác, cái biết do mình làm ra, chứ không phải chân tâm rỗng rang tự sáng biết.

Đồng thời, khi dùng cái biết mạnh để tấn công và ngự trị như vậy thì vọng tự rút lui, nhưng không mất. Bởi chưa khế chân tâm nên thức mê chưa dứt sạch thì các chủng tử nghiệp thức vẫn còn lưu lại trong tàng thức. Khi đủ duyên thì chúng trỗi dậy mạnh mẽ khiến chúng ta hoảng hốt và kinh sợ đến bất lực, mất kiểm soát.

3.  KHÉO DỤNG TÂM

a)   Bình thường – Không mê

Không ứng dụng theo tất cả những phương cách cực đoan trên. Chỉ là ngay đây, khéo điều chỉnh thân ngay ngắn, thông suốt; tâm bình thường, không dấu vết, không mê thì chân tâm tự sáng biết, lưu thông, trùm khắp, không ngăn ngại. Lúc này, muốn không biết cũng không được, chứ không phải tạo nên một cái biết rồi gìn giữ nó. Một cách vắn tắt, thẳng thắn: “Chỉ là bình thường, không mê thì tâm tự sáng biết. Không làm thêm bất cứ gì trong đó”.

Khi sinh hoạt, làm tất cả các công việc cũng bằng tâm rỗng sáng thênh thang như vậy thì chân đi, miệng nói, tay làm, nhưng vẫn thông suốt, lặng an, sáng biết, không chút trệ ngại.

Lúc tọa thiền, hành giả chỉnh thân ngay ngắn, không gắng gượng mà buông thư, rỗng suốt, sáng ngời, không can thiệp trên niệm thì niệm còn hay hết thảy đều tự lặng trong, không dính dáng. Theo thời gian, lực giác sáng mạnh thì tất cả tự vắng lặng.

Vậy thì, niệm còn mà vẫn trong lặng, hay phải dứt bặt niệm, mới trong lặng?

Cả hai còn nhằm trên niệm, chưa rời tướng niệm, tức đã quên tâm thì lấy gì để trong lặng? Chỉ là bặt dấu vết, bình thường, không mê thì tâm tự sáng biết, chứ không can thiệp trên vọng. Công phu đắc lực, vọng tự mất giá trị chi phối. Vọng còn hay hết, đều không can hệ thì tâm tự lặng trong, sáng ngời, tự tại.

Như thế là đang sống bằng định lực và tuệ lực của tự tâm, vọng tự vô hiệu hóa. Sắp lâm chung, lực dụng mạnh nên lúc này chỉ là chân tâm sáng ngời, các vọng không có giá trị chi phối. Nếu vị nào hằng ngày dụng công chưa đủ mạnh, cuốn phim cuộc đời có hiện ra thì nhờ dụng công đúng pháp như trên cho nên chỉ sống bằng chân tâm thênh thang, các vọng cũng tự lưu thông bình thường, không can hệ, còn tâm thì đã thuần thục nên tự nó giác sáng. Nếu hành giả đã ngộ tâm tánh thì vọng tự dứt bặt, không còn. Vị này tự biết lối đi, không cần bàn thêm.

b)  Minh định

Chứng Đạo Ca, Thiền sư Huyền Giác nói:

Rành rành thấy, không một vật,

Cũng không người chừ cũng không Phật.

Đại thiên sa giới bọt nổi trôi,

Tất cả Thánh Hiền như điện chớp.

Ngài nói, chân tâm thấy biết rõ ràng, không một vật. Không người, cũng không Phật, tức vượt năng sở ta và Phật, thấy biết như thị. Ngài khẳng định, không phải không có gì mà thấy rõ tất cả cõi nước như bọt biển, tức đều huyễn hóa; thấy tất cả Thánh Hiền như điện chớp, tức là không còn kẹt hai bên Thánh và phàm. Thực tế, khi ngộ chân tâm, tâm tự vượt thoát và thực thấy như thế, không động; chứ không phải thấy qua hiểu biết rồi thấm nhuần trong khi vẫn còn tâm tưởng loạn động. Chính vì từ chân tâm mà thực thấy cho nên tự mình thấm nghiệm và bất động, sáng ngời. Sức sống này cho hành giả tự tại, tiêu sái mà tích cực trong việc lợi sanh không nề lao nhọc, chứ không phải có một điều kiện hay trạng thái tâm như thế nào đó để được an nhàn.

Bình thường, không dấu vết, không mê thì tâm tự sáng ngời, thấy tất cả rành rành mà không động, không dính dáng, vẫn bất động; chứ không phải không thấy gì, hoặc không có vật gì. Nắm vững yếu chỉ này thì công phu không sai lệch. Hạ thủ phải khế tâm tánh như thế thì mới ngộ tánh, không sanh các chướng ngại hoặc mang lại kết quả không như mong muốn.

  1. 4.   KẾT LUẬN

Dù ở đâu thì chúng ta cũng là một sự sống đối với mọi thứ luôn tiếp diễn. Mê muội theo cảnh thì bất ổn, khổ đau. Khéo tu, giác sáng thì vượt thoát, an lạc, tự tại. Nếu phải giác biết như thế nào đó, tức đã tạo tác, khác bình thường cho nên có lúc sẽ mỏi, không thể tiếp tục.

Tu tập chỉ là bình thường, nhưng tìm một vết mê không ra thì tâm tự lưu thông, sáng biết. Chỉ có cái bình thường như thế thì mới thường hằng mãi mãi luôn luôn như thế, không biến đổi. Như ngài Triệu Châu nói, các bậc Tổ đức từ trước đạt đến rốt ráo tột cùng cũng chỉ bình thường như cũ, không có vị nào không từ trong chỗ như cũ mà được[13].

Chúng ta sống là một cuộc sống bình thường. Khi tu, cũng phải bình thường thì mới trường viễn. Không thấy việc dụng tâm khác với cuộc sống cho nên không bị gián đoạn. Nếu tu theo bất cứ kiểu gì khác bình thường thì theo thời gian cũng sẽ bị thay đổi, không ổn định, không đạt được giác ngộ giải thoát.

 


RẮN CHẾT – RẮN SỐNG

Thiền sư Hổ Khưu Thiệu Long, đời thứ 12 tông Thiền Lâm Tế. Sư  thượng đường dạy chúng xong, cầm gậy vạch một lằn nói: “Rắn chết trên đường chớ đập chết, giỏ tre không đáy bỏ mang về.” Là ngài muốn chỉ bày việc gì?

Thấy thì thẳng đó liền thấy. Không thấy thì con rắn đã chết, không thể nào nhận ra.

Con rắn sống, mỗi người phải khéo nhận lại nơi chính mình. Đợi nói, chỉ có thể là con rắn chết. Tuy nhiên, nếu hành giả khéo nghe mà nhận được, sẽ khiến cho con rắn bị chết vô lượng kiếp, hôm nay liền đó được sống lại.

Xem! Xem! Đừng để đầu gậy Thiền sư lừa. Hãy xem, khi ngài Thiệu Long đưa cây gậy vạch vào hư không, lấy cái gì để thấy biết? Nhằm chỗ nào để thấy biết? Thấy biết cái gì?

Rõ ràng không có con rắn nào ở đó cả; chỉ là đầu gậy đang biết nói. Nói điều gì? Đừng suy gẫm nữa! Hãy nhận thẳng tánh mình, sẽ hay ra: “Khi chưa đưa cây gậy, cái ấy đã sẵn”. Đã đưa gậy, cũng không phải là việc gì khác. Hiện nay đây, không thiếu. Đây là đầu thứ nhất, phải khéo nhận, không cho hiểu. Nếu chưa thể như thế thì sang đầu thứ hai để suốt thông diệu lý Phật Tổ, thầm nhận lại nơi mình, hy vọng thấy ra.

Sư nói: “Rắn chết trên đường chớ đập chết, giỏ tre không đáy bỏ mang về.”.

Rắn đã chết lâu rồi, không cần đập cho chết nữa. Không ai lại đi đập con rắn đã cứng đờ, không còn sống. Có nghĩa: Sự thật, vọng tưởng, các pháp vốn không thật (con rắn đã chết). Nếu nhận tột bản chất rỗng tuếch này, hành giả dụng tâm không nên trừ dẹp hay can thiệp gì trên chúng (đừng đập chết con rắn đã chết) mà chỉ là giác sáng, không mê, ngay đó đang miên mật công phu. Thảng như vừa có mảy may làm gì, tức đã rơi vào tạo tác sanh diệt, là đã quên bản tâm, mê tự tánh, không định tuệ, không khế với đại đạo giác ngộ giải thoát, tu hành vô lực.

“Giỏ tre không đáy bỏ mang về”.Giỏ không đáy là ngầm chỉ cho bản tâm vô tướng, vốn vô nhiễm, không một vật, không chứa đựng gì, bởi không gì chạm đến được. Bỏ mang về mà thật không có gì để mang về đâu cả. Tức là trở lại tự tánh thì liền là không vọng, vọng tự dứt bặt, tiêu dung trong tánh mình; không đi đâu về đâu và cũng chẳng có gì để đi về đâu cả. Khi ấy, các pháp cũng trở nên trong lặng, vượt thoát năng sở, có không.

Như bóng đen, khi tối thì tạm có, nhưng sờ vào thì bóng tối vốn không có gì, nên không thật. Mở đèn thì mất, chứ bóng tối cũng không đi về đâu, bởi bản chất nó không có gì. Cũng vậy, khi mê thì tâm dấy động trở thành vọng, biến hiện các pháp cũng hư vọng, như bóng tối, không có thật, dụ như “con rắn đã chết”. Trở lại bản nguyên thì vọng tự tiêu dung, trả lại tự tánh uyên nguyên vốn sẵn chứ cũng không thấy có vọng là gì, nó được tiêu tán như thế nào hoặc là đã trở về đâu cả. Đây là nghĩa Giỏ tre không đáy bỏ mang về. Lúc này các pháp trở nên sáng trong, rạng ngời hơn bao giờ cả; bởi tất cả là một sự hiển hiện nơi tự tánh chánh định chính mình.

Cho thấy, hành giả dụng tâm tu tập, nếu có làm gì là đã rơi vào dấu vết, là tạo tác, là đang cố dẹp trừ mọi thứ mà bản thân nó vốn không có gì; đây là đi đập cho chết một con rắn đã chết. Các pháp xưa nay không, ví như con rắn đã chết lâu rồi thì không cần can thiệp thêm gì trên chúng, được Thiền sư Thiệu Long ví như không nên đập con rắn đã nằm bất động. Chỉ cần không mê lầm, không theo các pháp thì tất cả không làm gì được mình.

Như vậy, “không làm gì cả” là một cách dụng tâm chứ không phải lười biếng, buông lung, hay hời hợt thả tâm lãng đãng. Không làm gì, nhưng sáng biết, sẽ khế tự tánh, mới có lúc bừng ngộ, mới sáng ra đầu gậy Thiền sư Thiệu Long khai thị, tỏ được cái giỏ tre không đáy nơi mình.

Tóm lại, đừng cố tìm hiểu; hiểu chỉ là con rắn chết. Hãy ngay đầu gậy hay vạn tượng đang diễn bày trước mắt sáng ra; sẽ thấy con rắn đang sống sờ sờ. Thiền sư Thiệu Long nói con rắn chết, nhưng nó lại sống đến thời Thiền sư Đức Quang Phật Chiếu sau này vẫn còn[14], và sống cho đến tận bây giờ cho chúng ta cũng được nhìn thấy. Một con rắn kỳ diệu!

Ngay đây, nếu chưa nhận lại thì rõ ràng là con rắn đang chết. Nhưng khéo thấy ra, mới hay: Xưa nay chưa từng chết bao giờ!

 

 

 



[1] Việc này đã được trình bày đầy đủ trong sách “Dụng công tu thiền”.

[2] Xem đầy đủ tại Sơ Đẳng Phật học Giáo khoa Thư, Bài 18: Điều Phục Hai vị Tiên, trang 167. Hoặc Đức Phật và Phật Pháp, trang 35,36.

[3] HT. Thích Minh Châu dịch (2012), Kinh Trung Bộ 1, “29. Đại kinh thí dụ lõi cây”, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 250.

[4] HT. Thích Thanh Từ (2015), Sđd, tr. 352. (Có chỗ nói: Đất tâm không si là tuệ).

[5] Quốc Sư Thông Biện, Việt Nam nói rõ chỗ này: “Rõ biết tâm tông của Phật, hạnh và giải tương ưng, gọi là Tổ”.

[6] HT. Thích Minh Châu dịch (2012), Sđd, tr. 250.

[7] HT. Thích Thanh Từ (2015), Thanh Từ Toàn Tập - Tập 17, “Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải”, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 29.

[8] HT. Thích Thanh Từ (2018), Thanh Từ Toàn Tập - Tập 31, “Thiền sư Trung Hoa giảng giải”, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 168.

[9] HT. Thích Thanh Từ (2015), Sđd, tr. 33.

[10] Trung Quốc Thiền Tông Đại Toàn, bản chữ Hán, trang 521.

[11] Các bước căn bản thực tập Thiền đã biên tập trong sách Dụng công tu Thiền.

[12] Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ.

[13] Ngài Huệ Hồng dẫn lời Thiền sư Triệu Châu: “Hết thảy chỉ như cũ. Các bậc Thánh từ trước, không có ai chẳng từ trong chỗ như cũ mà được.”.

[14] Ngài Đức Quang có nhắc lại lời này khai thị chúng.

 

 

 

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

3133986
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
358
4146
358
3105839
57134
133804
3133986