Thứ Bảy 14/2/2026 -- 27/12/2025 (Âm lịch) -- 2570 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Sách: Khéo Dụng Tâm - Thiền Là Ngộ Tánh

 

THIỀN LÀ NGỘ TÁNH

 1.   ĐẠO PHẬT LÀ GIÁC NGỘ GIẢI THOÁT

Nói đến đạo Phật là nói đến giác ngộ giải thoát. Mục đích và tâm nguyện của người tu Phật là muốn đạt đến giác ngộ, giải thoát, dứt khổ, an vui, cứu giúp người khác cùng đạt được như vậy. Nhắc đến giác ngộ, nhiều người thường nghĩ ngay đến việc mình đã giác ngộ cuộc đời vô thường, mạng sống mong manh, của cải phù du, tất cả đều tạm bợ. Tuy vậy, chúng ta vẫn còn bị buồn khổ chi phối. Giác ngộ nhưng vẫn chưa thoát khỏi tuyệt đối như thế thì chưa đúng giá trị của Phật đạo, chưa đúng như nguyện của hành giả tu hành.

Tuy nhiên, nếu bảo thấy biết như trên vẫn chưa phải giác ngộ cũng không đúng. Bởi trước kia chưa được tu học, chúng ta không có khả năng thấy biết như vậy. Thế thì, cho là đã giác ngộ cũng chưa phải. Nói là chưa giác ngộ cũng không hoàn toàn đúng. Phải thấy thế nào?

Thực tế, thấy biết được như trên là thấy đúng bản chất thật cuộc đời, thân người và các pháp, là đã thấy biết giác ngộ. Nhưng mới nương lời Phật để hiểu biết, nhận ra phần nào, chứ chưa phải chính mình tự ngộ ra, do đó chưa có nội lực để vượt thoát, đúng như ý nghĩa giác ngộ cứu cánh. Nếu thấu suốt hai chân lý dưới đây, sẽ nhận ra đầy đủ về sự giác ngộ:

1)   Trí tuệ - Giác ngộ - Giải thoát.

2)   Trí tuệ = Giác ngộ = Giải thoát.

v Thứ nhất: Trí tuệ à Giác ngộ à Giải thoát

Tức là phải có trí tuệ à Mới giác ngộ à Sau đó mới được giải thoát. Phải trải qua thời gian, không gian và có lộ trình tuần tự như vậy.

Nhờ học Kinh Luận mà có trí tuệ, biết đời là giả tạm, thân này huyễn hóa. Từ đó, không dính chấp, giảm mê lầm, bớt khổ đau... Nhưng chúng ta vẫn chưa làm chủ tuyệt đối, còn bị đau khổ. Lý do là trong tâm còn loạn động, trong khi đó đức Phật dạy phải đạt đến “cái lõi” “tâm giải thoát bất động”[3], mới được giác ngộ, hết khổ. Đây chưa phải là trí tuệ chính mình ngộ ra, chưa có nội lực đủ lớn cho nên việc làm chủ còn hạn chế. Do vậy, sau khi học hiểu, tiếp theo hành giả phải ứng dụng để hạ thủ công phu tu tập à Mới đạt đến giác ngộ đúng nghĩa à Sau đó phải miên mật bảo nhậm công phu, được đắc lực, đầy đủ diệu lực, mới được giải thoát.

Đây là lộ trình phổ thông, là hướng tu hành cho căn cơ tiệm tu. Phải học hiểu chánh pháp, có trí tuệ. Tiếp theo phải tu hành à Rồi mới được giác ngộ, nhận ra diệu chỉcủa Phật Tổ à Sau đó khéo giữ gìn, lực dụng tự tánh phát huy đủ mạnh, mới được giải thoát.

v Thứ hai: Trí tuệ = Giác ngộ = Giải thoát

Ở đây, ngay khi bừng ngộ trí tuệ chân thật = Cũng chính là đã giác ngộ = Liền đó tự vượt thoát (giải thoát). Không trải qua một khoảng không gian hay thời gian nào cả.

Là hướng đi của hành giả có kinh nghiệm. Ngay đây ngộ thẳng tự tánh (trí tuệ nguồn vô sư); là cốt tủy Phật Tổ muốn chỉ bày. Ngộ được trí tuệ này = Chính là trở lại cội nguồn của sự giác ngộ. Bởi trong ấy vốn tự không động (tức đã sẵn định); đồng thời đã sẵn trí tuệ vô lậu sáng ngời. Diệu lực của trí tuệ này cho hành giả liền đó tự vượt thoát tất cả = Giải thoát.

Đây là lộ trình thẳng tắt. Hành giả ngộ thẳng tự tánh = Tức là giác ngộ = Liền đó tự vượt thoát tất cả, tức giải thoát. Như suốt thông qua ngón tay, khéo nhận thẳng mặt trăng. Khéo tu như vậy là nhận thẳng cốt tủy của Thánh giáo Như Lai chứ không phải chối bỏ Thánh điển. Nhận chân cốt lõi giác ngộ để được giải thoát như vậy là đã nhận chân được “tâm giải thoát bất động”, chính là “cái lõi” mà đức Phật đã chỉ dạy. Qua đó, chúng ta có thể nhận ra trọng tâm của giác ngộ tựu trung có hai phần:

1.1.  Một là cội nguồn giác ngộ

Tức ngộ tự tánh. Tánh ấy vốn sẵn, không sanh diệt, vốn tự không động, nên gọi là định. Tánh này đã sẵn sáng ngời, nên gọi là tuệ. Lục Tổ khẳng định: “Tự tâm không loạn là định, tự tâm sáng suốt là tuệ”[4], chính là điền địa này. Hành giả bừng ngộ tánh này, hay ra định tuệ sẵn vậy lâu rồi, chứ không phải do làm gì để được. Tánh này có diệu lực cho hành giả tự vượt thoát tất cả một cách tự nhiên, như nhiên, không có sự cố gắng, gắng gượng hay giữ gìn gì trong đó, gọi là giải thoát.

1.2.  Hai là thấy biết giác ngộ

Từ cội nguồn đã ngộ, cho hành giả thấy biết đúng chân lý các pháp vốn dĩ như thị. Cụ thể, thấy rõ tường tận các pháp đều là vô thường, khổ, không, vô ngã, huyễn hóa, tạm bợ... Nhưng vẫn như như không động. Người vẫn đây, cảnh vẫn đó, đời đổi thay... Tất cả rành rẽ rõ ràng, nhưng không hề khởi phân biệt, không dính dáng gì đến tự tánh kia. Các pháp không ngăn ngại nhau, mà tất cả lưu thông và trở nên rạng ngời, hiện hữu trong tự tánh chánh định chính mình. Chơn biết là chơn, huyễn rõ là huyễn, thiện ra thiện, ác ra ác... không nhầm lẫn nhau, nhưng vẫn như như, không động.

Khi mới học đạo, chúng ta đã biết đời là giả tạm, thân người mong manh, vật chất huyễn hóa… Nhưng tâm vẫn còn động, chưa thoát khỏi thức mê cho nên chưa đạt đến tâm giác ngộ với tuệ bất động, chưa có diệu lực cho chúng ta giải thoát đúng nghĩa. Hành giả chứng ngộ tự tâm, có trí tuệ Bát-nhã thấy biết rõ ràng hơn như vậy, nhưng do không còn tình thức cho nên không động, không khởi phân biệt mà tự thấy biết trùm khắp, đạt đến như huyễn tam-muội. Chính sức sống tự tâm cho hành giả thấy biết các pháp đúng như thật, vẫn bất động, do đó được tự tại giải thoát.

Lúc này, đúng sai, thiện ác, đẹp xấu... hành giả thấy biết rành rành, nhưng vẫn như như. Thấy biết này vượt căn và cảnh, năng và sở; vốn như thị và linh thông vô cùng. Thấy biết này xuất phát từ tự tánh của hành giả đã ngộ. Tự tánh ấy là cội nguồn giác ngộ và cho ta thấy biết như thế là diệu dụng, là thấy biết giác ngộ. Hành giả đạt đến đây rồi, các khổ không chạm đến được, nên tự tại, tiêu sái.

1.3.  Các pháp còn lại

Bên cạnh đó, các pháp còn lại như là: Gieo duyên Tam Bảo, làm lành lánh dữ, học pháp, tu tập; cho đến việc tụng Kinh, tọa Thiền...  đều là pháp phương tiện để gieo duyên, cho hành giả tập sự tu tập dần dần. Nhưng mục đích chính vẫn là cốt yếu đạt được đích đến rốt ráo cuối cùng: Cốt lõi giác ngộ – Giải thoát.

Có người cho rằng không cần tu hành ngộ đạo cao siêu, chỉ mong sống tốt, hiền lành, vui vẻ là quý rồi. Muốn là một việc, nhưng khi gặp phải câu chuyện hoặc sự cố quá sức chịu đựng thì muốn an cũng khó, mong khỏe cũng không dễ dàng. Vậy thì cái gì có thể cho chúng ta đạt được nguyện ước trên một cách chắc chắn, an toàn ngay hiện tại, kể cả mãi về sau?

Khi nghèo, tâm tốt thì cuộc sống được thanh cao, an ổn, nhưng lại túng thiếu vật chất cũng không hề dễ chịu. Lúc giàu có nhiều điều kiện, gặp việc nghịch ý liền ra tay rồi phải gánh lấy hậu quả đọa lạc về sau. Có phước mà thiếu trí tuệ dẫn đường thì phước đó là điều kiện thuận để chúng ta tạo họa và vào trong các khổ. Tất cả cho thấy chúng ta chưa ổn bởi các nghiệp do mình gây tạo mà nguồn cơn là do không làm chủ được bản thân.

Nếu tu hành giác ngộ, tâm sẽ tự lặng an mà rất sáng. Trong ấy có tuệ thấy ra mọi vấn đề, không mê lầm, không tạo nghiệp để phải chịu khổ. Đồng thời có định cho chúng ta tự chủ và sống đúng như những gì mình thấy biết. Có tuệ thấy ra, có định tự chủ, có diệu lực khiến cho không có bất cứ gì chạm đến được, hành giả sẽ được như nguyện. Đạt được như vậy thì các khổ tự trừ, tự được an lạc. Như vậy, muốn được sống tốt, hiền lành, vui vẻ một cách chắc chắn, không bị trở ngại thì không gì hơn là phải tu hành giác ngộ. Tự tâm giác ngộ này mới đủ trí lực, cho chúng ta sống được như nguyện, không bị các khổ chi phối.

Cho thấy, tất cả các phương pháp đều hướng đến giác ngộ tự tánh. Và phải ngộ tự tánh, mới đạt được an lạc diệu thường. Tất cả mỗi mỗi đều từ trong ấy lưu xuất, mới vượt thoát, sanh vẫn không sanh, diệu dụng bất khả tư nghì, phát minh vô tận.

2.   TRÌNH ĐỘ GIÁC NGỘ

2.1.  Cội nguồn giác ngộ thôi thúc

Mỗi chúng ta đều có Phật tánh. Nhiều đời trước đã có duyên lành tu hành đúng pháp, có được kết quả nhất định. Nay ra đời, do tánh Phật và chủng duyên tu hành sâu dày thôi thúc, khiến chúng ta thấy đời tạm bợ, của cải phù du, muốn học đạo, tu tập. Đây là sự giác ngộ được khơi nguồn từ “cội nguồn giác ngộ”, cho chúng ta thấy biết bản chất thật các pháp là huyễn hóa, nên tìm đường tu hành, cầu giác ngộ, giải thoát. Do mới chỉ được một phần thôi thúc, chưa phải ngộ ra trọn vẹn, cho nên chưa có diệu lực đầy đủ.

2.2.  Ngộ ra cội nguồn

Tìm đến Phật đạo, phát tâm tu học. Gặp Thiện tri thức, nghe chánh pháp, thực học chuyên tu. Có vị ngộ thẳng tự tánh. Có người phải khéo dụng công khế hợp tự tánh vô sanh. Trải qua thời gian công phu đắc lực, thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng ngộ, diệu dụng bất khả tư nghì, tự tại giải thoát. “Cội nguồn giác ngộ” đã hiển hiện, từ đây hành giả có được cái “thấy biết giác ngộ” chính là diệu dụng được lưu xuất từ tự tánh – Từ cội nguồn đã được ngộ.

2.3.  Giác ngộ viên mãn

Sau khi đã ngộ tự tánh, hành giả khéo sống và bảo nhậm, đồng thời tiêu dung tập khí. Ngay khi hành giả tiêu dung tập khí, cũng không khác sức sống từ tự tánh này, do đó cũng chính là lúc đang công phu. Cứ như thế, bảo nhậm tự tánh cũng chính là thành toàn diệu hạnh cho chính mình, không hai, không khác. Khi công viên quả mãn, Phật đạo tự thành.

3. NÓI ĐẾN THIỀN TÔNG LÀ NÓI ĐẾN NGỘ TÁNH

Đức Phật tọa Thiền, tu Thiền mà thành Phật. Chư Tổ nhờ tu Thiền, ngộ Thiền, rõ suốt tâm tông của Phật, hạnh giải tương ưng mà thành Tổ[5]. Đức Phật truyền tâm ấn cho Tổ Ca-diếp, từ đó chư Tổ thay nhau trao truyền là truyền bản tâm Thiền đã được chứng ngộ. Nơi mỗi chúng ta, ai cũng sẵn bản tâm này. Tâm tánh ấy nơi Phật và chúng sanh bình đẳng như nhau, không khác. Ngộ bản tâm này là ngộ Thiền, cho nên Thiền là cốt tủy của đạo Phật.

Như vậy, khi đề cập đến Thiền là nói thẳng đến cốt tủy của đạo Phật. Cốt tủy này chính là giác ngộ - Ngộ tánh. Do đó, khi nói đến Thiền tông là nói đến việc kiến tánh, ngộ tánh.

Kinh Lăng-già, đức Phật dạy: “Dĩ tâm vi tông, dĩ vô môn vi pháp môn”. Nghĩa là: “Lấy tâm làm chủ, lấy cửa không làm cửa pháp”. Hòa thượng Tông chủ Thiền phái Trúc Lâm hiện nay nói: “Trong nhà thiền, nói tới kinh Lăng-già, tức là nói đến tâm ấn của Phật Tổ”. Tức là nói đến Thiền tông. Cho thấy, Thiền tông: “Lấy tâm làm ch, lấy cửa không làm cửa pháp”. Hành giả tu Thiền, dùng trí tuệ Bát-nhã “Thấu tột các pháp vốn không” làm cửa vào, để nhận thẳng tâm tánh, là chỗ rốt ráo chính yếu. Từ đây để tu hành mới có ngày viên mãn, thành Phật.

Tổ Đạt Ma nói: “Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật”, đã trở thành châm ngôn nhà Thiền. Lục Tổ nói: “Chỉ luận kiến tánh. Không luận Thiền định giải thoát”. Nhị Tổ Pháp Loa nói: “Là người học Phật, trước phải kiến tánh”. Hòa thượng Tông chủ hiện nay dạy: “Nói đến Thiền tông là Kiến tánh khởi tu”. Một cách cụ thể, Thiền tông dùng tâm ấn tâm. Tức là hành giả ngộ tâm, liền suốt thông, đồng với tâm thể chư Phật, gọi là truyền tâm ấn. Tổ Ca-diếp ngộ tâm nên được đức Phật truyền tâm ấn. Chư Tổ trao nhau là trao truyền tâm ấn này. Cho thấy, kiến tánh, ngộ tâm chính là tông chỉ của Thiền tông. Chính ngộ tánh mới làm nên Thiền tông. Ngoài ra, không có phương cách nào khác.

3.1. Lý do 1: Ngộ tánh là cốt lõi, là “Cái lõi” của đạo Phật, cũng như của người tu Phật

Kinh Thí dụ lõi cây, đức Phật dạy: “Này các Tỷ-kheo, phạm hạnh này không phải vì lợi ích, lợi dưỡng, danh vọng, không phải vì lợi ích thành tựu giới đức, không phải vì lợi ích thành tựu thiền định, không phải vì lợi ích tri kiến. Và này các Tỷ-kheo, tâm giải thoát bất động chính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”.[6]

“Phạm hạnh này” chính là hạnh tu mà người con Phật đang sống và thực hành để đạt đến rốt ráo viên mãn.

Đức Phật khẳng định: “Tâm giải thoát bất độngchính là mục đích của phạm hạnh này, là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”.

- Cái gì bất động?

Chính là tâm tánh chính mình vốn sẵn tự tịnh tự định, muốn động cũng không được. Lục Tổ Huệ Năng đã chứng ngộ và thốt lên một cách khẳng khái: “Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh”[7] là vậy.

- Tâm này có khả năng giải thoát như thế nào?

Ngộ bản tâm này sẽ có diệu lực cho hành giả tự tại vượt thoát tất cả, tức giải thoát. Tổ Bá Trượng Hoài Hải đã sống thực và dạy chúng ta: “Biết tâm cùng cảnh vốn không đến nhau thì ngay nơi đó là giải thoát”[8]. Cảnh đó, mình đây, sáng biết rõ ràng đến chủ động, linh thông, nhưng vẫn như thị, không động. Toàn tâm sáng ngời, trùm khắp, rành rành tất cả nhưng không khởi phân biệt. Tuy không phân biệt mà sáng biết rành mạch, rõ ràng, hơn cả sự phân biệt của ý thức. Tâm này không có tướng trạng gì, chỉ là một sức sống rạng ngời, nhưng diệu lực vô biên, tất cả trần lao phiền não không chạm đến được. Do vậy, hành giả ngộ tâm này, liền đó tự tại, tiêu sái. Tổ Bá Trượng khẳng định, ngay tánh sáng biết rõ ràng mà cảnh không chạm đến được; nhưng tất cả không ngoài tâm, bởi đang thấy biết. Nhận thẳng tâm tánh mặc tình sáng biết rạng ngời thênh thang như thế, ngài nói, ngay đó giải thoát.

Đức Phật đã nhấn mạnh, người tu phạm hạnh không phải vì bất cứ lợi ích gì, kể cả lợi ích thành tựu thiền định”. Chỉ vì duy nhất một việc cốt lõi đó là “tâm giải thoát bất động”; tức là ngộ bản tâm bản tánh chính mình. Đến đây, không cần cầu Thiền định mà Thiền định tự thành tựu. Ngài khẳng định, đây “là lõi cây, là mục tiêu cuối cùng của phạm hạnh”;tức là chỗ cứu cánh của Phật đạo, cũng là cốt lõi trọng yếu của người tu Phật. Lục Tổ Huệ Năng nói: “Chỉ luận kiến tánh, chẳng luận Thiền định giải thoát”[9], là yếu chỉ này. Cho thấy, ngộ tánh, chính là cốt lõi của đạo Phật nói chung và Thiền tông nói riêng.

3.2.   Lý do 2: Chỉ khi ngộ tánh mới thành toàn các hạnh tu tập

Thiền sư Huyền Giác nói: “Lục độ vạn hạnh thể trung viên”. Sáu độ muôn hạnh vốn đã tròn đủ trong thể tánh ấy. Và phải ngộ tánh này mới viên tròn các hạnh tu tập được.

Điển hình, hành giả muốn trừ dẹp tham sân si, phải trở lại tự tánh giác sáng thì ba độc vắng bóng. Nếu có làm gì đó, tức rơi vào tạo tác sanh diệt. Tham sân si là loạn động sanh diệt, làm gì đó để trừ cũng đồng tính chất loạn động sanh diệt. Cái sanh diệt không thể tiêu trừ được sanh diệt, mà phải bằng cái vô sanh. Ngài Nham Đầu Toàn Khoát dẫn lời cổ đức nói: “Chẳng phải trần chẳng xâm phạm ta, nhưng khi ta vô tâm thì nó cháy”, chính là nghĩa này. Cho thấy, phải trở lại tự tánh, mới tiêu dung được ba độc.

Đến như các hạnh Ba-la-mật, phải trở lại tự tánh, mới đạt đến rốt ráo, cứu cánh thanh tịnh. Ngoài ra, đều nằm trong tạo tác, các tướng hãy còn, không thể đạt đến rốt ráo viên mãn (Ba-la-mật).

Như vậy, các hạnh tu như là: Trừ ba độc, thấy các pháp huyễn hóa, … cho đến các hạnh rốt ráo đạt đến Ba-la-mật… ban đầu phải trở lại tự tánh, tiếp theo phải được lưu xuất từ tự tánh, mới suốt tột. Ngoài ra, tu hành theo kiểu nào cũng chỉ là tạo tác, chưa rời pháp sanh diệt, cho nên không có kết quả khả quan, không thể đạt đến rốt ráo.

Một lý do trọng yếu và thực tế, gần gũi là tu hành phải đạt đến giác ngộ (ngộ tánh) thì mới có diệu lực cho hành giả dứt khổ, an vui, tự tại giải thoát. Chính vì những lý do căn bản và quan trọng trên cho nên hành giả tu Thiền, phải ngộ tánh, đặt việc này lên hàng đầu. Do đó, nói đến Thiền tông là nói đến ngộ tánh.

  1. 4.     NGỘ LÀ NGỘ KHÔNG CHỖ ĐƯỢC

Đức Phật dạy: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đức Phật thành Phật là viên thành cái đã sẵn (tâm tánh). Chư Tổ chứng ngộ cũng chính là nhận lại cái đã sẵn này. Chúng sanh mê là quên tâm này. Khi ngộ, liền đó đồng tâm thể chư Phật. Nhờ sẵn có cội nguồn này cho nên chúng ta tu hành mới có ngày bừng ngộ. Tu hành là cốt nhận lại tự tâm vốn sẵn này, mới dứt mê, hết khổ, tự tại, an vui, đạt đến giải thoát.

Ngộ, là bừng ngộ tánh mình; là bất ngờ trả lại chính nó, chứ không phải ngộ ra cái gì đó bên ngoài. Mê và ngộ như nhắm mắt và mở mắt, không có chặng giữa.

Chúng sanh mê muội là do quên tự tánh này. Từ đây lầm chấp ngã và ngã sở. Cụ thể, khi quên tự tánh, liền chấp năm ấm làm mình, thầm thầm thấy có một cái được gọi là ngã rồi chấp lấy, cho là ta. Khi đã có ngã thì sẽ có ngã sở, những thứ thuộc về của ta (nhà cửa, tài sản, quan điểm…), từ đó dính nhiễm, chấp trước. Chấp ngã trước, kế đến mới dính mắc, tạo nghiệp, đi vào luân hồi sanh tử chịu các khổ não. Khi tu, nhắm thẳng vào hai đối tượng ngã và ngã sở để kiểm điểm, hàng phục.

Phật Tổ chỉ dạy tuy nhiều, nhưng tựu trung không ra ngoài hai phạm trù ngã và ngã sở này để khéo tu tập, hóa giải. Một mặt dẹp ngoài, tránh duyên (ngã sở), không để dính nhiễm. Mặt khác phải khéo buông bỏ bên trong (bản ngã), không chấp trước. Đây là việc tạm làm khi mê để hỗ trợ cho mục đích dụng công “nhận lại tự tánh”. Một khi tánh này bừng ngộ, tất cả tự vắng bóng, chỉ còn một tánh sáng sạch, lặng trong, tự tại giải thoát.

Muốn vậy, hành giả phải khéo dụng công. Tất cả phải được đặt nền tảng trên “sức giác sáng của tự tánh”. Trước hết, phải sáng lại tánh mình, không can thiệp trên bất cứ gì thì mọi thứ tự mất giá trị chi phối và tiêu dung. Khéo buông thư, bình thường, không tạo nên một dấu vết gì trong tâm. Ngay khi bặt vết mà không mê thì tánh tự sáng biết, chứ không phải lập nên một cái biết gì cả.

Một cách cụ thể hơn: Trong không trụ căn bản (Không phải chăn tâm, không kềm giữ tâm, không thấy có tâm để gìn giữ). Ngoài không trụ các trần (Không dừng trụ vào bất cứ gì, mà suốt qua tất cả). Như thế, trong ngoài vắng bặt, chỉ còn một tánh sáng ngời, mặc tình biết khắp.

Thiền sư Đại Châu Huệ Hải nói: “Ngộ là ngộ không chỗ được”. Như trên vừa nêu, trong ngoài đều dứt bặt. Ngay khi không chỗ được (Bặt tất cả) thì tánh tự hiện bày, tức đã ngộ.

Như vậy, ngay khi trong không trụ căn bản (Không thấy có tâm tánh để giữ); ngoài không dừng trụ vào bất cứ đâu, hay vật nào. Liền đó, không chỗ có thể được (Bặt hết tất cả), tánh tự hiện bày (Đốn ngộ).

5. CHÍN CHẮN DỤNG TÂM

Thực tế đã có nhiều vị buổi đầu công phu do chưa kinh nghiệm cho nên chưa khéo dụng tâm. Có lúc thì xoay vào trong để tìm tâm, tức đã thấy có cái tâm để tìm. Lúc thì nhằm trên thấy biết các cảnh để tìm cái biết. Do tìm tâm bên ngoài và cố dụng công như thế cho nên nhọc nhằn mà không có kết quả. Sau đó điều chỉnh lại, công phu đúng, sáng lại tánh mình mà không còn tìm cầu hay tạo tác gì. Bỗng có lúc bất ngờ sáng ra, thấy rõ bản tâm tự hiển hiện, sáng ngời, không can hệ đến ai hay bất cứ gì, mà mình và người (các cảnh) không phải hai. Tất cả tự nó rạng ngời, rõ ràng và vượt thoát như thế. Đây là nhờ công phu đúng, đã đắc lực, khế tự tánh, cho nên tánh tự sáng ngời.

Mình và cảnh không phải một: Tức là thấy tất cả rành rẽ rõ ràng mồn một, nhưng không can hệ gì nhau. Tất cả không chạm đến được tánh ấy.

Cũng không phải là khác: Tất cả hiện bày, không hai, nhưng vẫn tự như như.

Ngay đó, nếu trong không trụ căn bản (Không có khái niệm là tâm như thế nào đó để gìn giữ); ngoài không trụ các trần, không tìm biết thêm gì, thì tánh này tự nó mặc tình thênh thang, bàng bạc, biết khắp. Do lần đầu mới nhận ra, chưa khéo sống, do đó vị này nói: “Thấy biết bằng tánh thấy nghe, tánh biết; trên các cảnh, tánh biết hiện rõ ràng”. Như thế vô tình đã biến mình còn khoảng cách với tự tánh, chưa ngộ tột.

Khi nghĩ: “Thấy biết bằng tánh thấy nghe, tánh biết”, vô tìnhđã đưa tự tánh trở về giới hạn trong tánh thấy, tánh biết còn hạn hẹp tại các căn. Đây chỉ là mặt trăng thứ hai, chưa phải trăng thật. Như vậy, đã đánh mất đi tự tánh bàng bạc, thênh thang, vô tướng mà tự biết khắp.

Và nghĩ: “Trên các cảnh, tánh biết hiện rõ ràng”, vô tình giới hạn lại sự sáng biết của tự tánh đã nhận. Tức là chỉ nhận tánh biết và thông qua cảnh để nhận tánh biết ấy, chứ không phải tâm tánh tự thênh thang, biết khắp.

Chỉ cần có cái nhìn đúng, khéo dụng tâm: Đừng quan niệm tánh nghe, tánh biết, mà không tất cả các tâm, bặt dấu vết. Đồng thời, đừng nhận tánh biết thông qua các cảnh, mà suốt qua, không dừng trụ. Ngay đó, tánh tự thênh thang, trùm khắp.

Với hành giả chưa ngộ, còn trong quá trình dụng công thì tâm phải luôn luôn dứt bặt trong ngoài như thế, luôn sẵn một tánh giác sáng rạng ngời, chứ không phải đợi gặp duyên hay có vọng mới giác (Bởi nếu như thế sẽ vô lực, không kịp để làm chủ). Theo thời gian, công phu sẽ thuần thục, được đắc lực, lực này sẽ giúp cho chúng ta làm chủ cuộc sống. Khi thời tiết nhân duyên chín muồi, tánh này bừng ngộ, sẽ hay ra trong ấy đã sẵn một tâm an lạc diệu thường, vô biên, khôn tả xiết.

  1. 6.     KẾT LUẬN

Chúng sanh mê muội bởi quên tâm tánh này. Do đây, lầm chấp ngã và ngã sở, bao nhiêu đau khổ từ đó có ra. Trở lại tánh mình, tất cả vọng tập phiền não tự vắng bặt, chỉ còn một tánh sáng sạch, lặng trong, lạc an, nơi nơi không ngăn ngại. Mới biết, tu hành chỉ cốt trở lại “cái lõi” thì Phật pháp là tất cả hiện thành.

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

3133983
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
355
4146
355
3105839
57131
133804
3133983