TRỤ LÀ NƠI AN TRÚ TỰ NGÃ
1. KHÁI QUÁT CHUNG
Tự ngã được đề cập ở đây là bản ngã, được nhận biết qua hai dấu hiệu: Chấp thân tâm sanh diệt làm mình và trong tâm thầm thầm thấy có một cái được gọi là ta. Hành giả công phu sẽ phát hiện nó biến tướng qua nhiều dạng, nhưng tựu trung trong các phạm trù chính: Cái ta thông thường ngoài đời khi chưa tu tập, cái ta tu hành trong đạo (tu hành nhưng không khéo dụng công) và cái ta trong công phu, hoặc sở đắc.
Nguyên nhân hình thành tự ngã là do quên tự tánh, rơi vào thức mê, bản ngã được hình thành, do đó kẹt tâm chấp tướng. Từ đây, thấy biết rơi vào năng sở, phân biệt loạn động, cho nên sống trên bản ngã, tâm càng bị mê sâu, khiến sự chấp ngã ngày càng thêm lớn.
Một trong những nơi tự ngã ẩn náu thực tế dễ nhận ra, đó là ngay cách sống, hành vi (động dụng thi vi), nhưng quên giác sáng (quên tự tánh), vì thế, luôn có chỗ an trụ. Điển hình, khi thấy biết, con người thường thấy biết về cái gì đó, hoặc đợi có cảnh duyên, mới cho là mình có thấy biết... Như thế là đã an trụ trên cảnh. Mà có trụ, tức đã quên mình theo vật, quên tự tánh nên thức mê sanh. Đó là cơ sở để bản ngã ẩn náu, duy trì, tồn tại và lớn mạnh.
2. TRỤ NƠI AN ỔN, BẢN NGÃ CÓ NƠI ẨN NÁU
Không phải tại chỗ an ổn hay chỉ có chỗ an ổn, mà là do ở chỗ có trụ(cả chỗ an ổn và bất an). Khi vừa có chỗ trụ thì liền có chỗ cho bản ngã ẩn náu. Việc đó khiến tôi bực, tức đã trụ, liền đó bản ngã đã sanh, theo đó tạo nghiệp. Do chúng sanh thích trụ nơi an ổn, tìm nơi an ổn để trụ trước, đây là yếu huyệt khiến chúng ta thua bản ngã, không chiến thắng, không làm chủ được bản thân.
Một điển hình dễ nhận thấy, vị đệ tử nào được Thầy thương thì thườngỷ lại, gặp việc dễ trách cứ huynh đệ mình,không có khả năng chịu khó để dung hòa. Đây là do bản ngã ẩn náu tại chỗ nuông chìu. Đến khi gặp việc, cái tôi bị tổn thương cho nên phản ứng mạnh, nói năng hành xử trái đạo lý.
Nếu chúng ta có tu hành một chút thì cứng cỏi mà không khéo tùy thời hợp đạo như hành giả khéo dụng tâm như pháp, tức đã bị bản ngã lừa. Do thấy có chỗ tu hành để an trụ cho nên bản ngã tăng mạnh khiến chúng ta ít nói, nhưng người khác nói thì mình ít chịu nghe. Nếu dụng tâm đúng đạo, sống bằng chân tâm vô trụ, sẽ nhu nhuyến, như pháp, không sai lệch.
Hoặc là sống trong môi trường tu học an ổn, được Thầy khuyên thì quay lại tâm tu hành rất tốt. Nhưng khi gặp sự việc hay tình huống bất ngờ, vẫn không quên tự ngã, còn tâm tư riêng, có khi còn chấp nặng nề, bất chấp mọi thứ để bảo vệ cái thấy hoặc quan điểm riêng của mình. Bình thường thì rõ biết mọi thứ đều huyễn, kể cả quan niệm, quan điểm... Nhưng lúc này chỉ còn nhớ đến đúng và sai, bằng mọi giá để quyết bảo vệ cái được gọi là hợp lý mà quên mất đạo lý tu hành.
Đây là do sự an ổn, tạo điều kiện cho bản ngã có nơi ẩn náu và tăng mạnh. Tất cả đều là dấu hiệu của bản ngã, được ẩn náu nơi an ổn phát ra. Có thể thấy, ở trong chỗ an ổn mà không khéo dụng công chín chắn, bản ngã sẽ ẩn náu và lớn mạnh. Cho thấy, sự an ổn (an lạc) chưa đúng đạo, sẽ là nơi trú ẩn cho tự ngã lớn mạnh và cứng chắc, khó trừ. Nguyên nhân này khiến hành giả càng tu, càng chấp nặng. Chấp ngã chỉ khiến chúng ta càng mê sâu, lầm lạc, chướng ngại đại đạo và tạo nghiệp khổ trong sanh tử. Qua đó nhận ra, hành giả tu hành lâu năm mà không bình dị, không bình thường được, có thể là đã bị lạc.
3. CÔNG PHU CHƯA ĐÚNG, TRỤ NƠI AN ỔN, BẢN NGÃ TĂNG MẠNH
Không bàn đến những vị chưa sẵn sàng công phu, chỉ nhìn thẳng vào bản thân đã quyết chí dụng công tu tập. Hằng ngày luôn quay lại tâm mình, nhưng khi gặp việc thì chấp chặt vào quan điểm riêng hoặc quá quan trọng vào lý đúng và sai mà quên sống bằng chân tâm hiện tiền. Lý do là bởi công phu thấy có một tâm để trụ và trụ vào tâm an ổn ấy. Như thế vô tình đã trái với chân tâm thênh thang vô trụ. Từ đó, tâm bị giới hạn trong phần hạn an ổn nhỏ hẹp, dẫn đến khi gặp cảnh duyên quá sức chịu đựng thì bị tình trạng loạn động, thấy biết trái với chân tâm và chấp chặt như vừa nêu trên.
Cho thấy, nếu công phu không đúng, trụ nơi an ổn thì sẽ khiến cho bản ngã có nơi ẩn náu, có đủ thuận duyên để tăng trưởng. Bài học được rút ra ở đây là: Khi có chỗ cho tâm an trụ, có chỗ để trụ tâm thì bản ngã có nơi trú ngụ và lớn mạnh. Khi đủ duyên, nó sẽ bùng phát theo cách của nó. Cần nhận biết sai lầm này để điều chỉnh công phu.
4. KHI TRỤ, SẼ BỊ THIỆT THÒI NÀO?
v Vừa trụ là đã phan duyên – dính mắc
Giả sử nghe nói:
Đôi khi nhìn thấy người điên đảo,
Mà chẳng thấy mình cũng đảo điên.
Chúng ta thấy ra đạo lý gì?
Nếu ở phạm trù sách tấn hoặc tự xét lại mình để sửa lỗi lầm, không nhìn phải quấy của người khác, cần kiểm điểm bản thân để tiến tu thì rất tốt. Nhưng nếu xét tột công phu dụng tâm tu tập thì vẫn nhằm trên sự điên đảo để thấy biết, tức là thấy biết theo cảnh, do đó chưa thoát khỏi điên đảo.Dụng tâm như vậy còn dừng kẹt trên cảnh, chưa khéo nhận lại bản tâm, do vậy kết quả chỉ khiêm nhường, lực dụng không đáng kể.
Cái thấy biết này bắt nguồn từ việc phan duyên, rồi dừng trụ trên cảnh. Cụ thể, cảnh trong câu thơ trên là sự điên đảo, đảo điên. Việc phan duyên rồi dính mắc này nó nằm sẵn trong bản chất của mê. Tức là khi mê thì tự thức mê nó phan duyên và dính mắc; khéo tỉnh sáng mới dừng được. Quên tâm liền mê, từ đây thấy biết phan duyên, tìm biết trên cảnh, biết theo hoặc biết về cảnh sở duyên, nên bị dính mắc. Chính vì vậy cho nên đối trước sự việc, không sáng lại bản tâm mà thích can thiệp trên cảnh. Đối trước các cảnh, thích cảnh như ý mà không khéo ngay đó nhận lại tánh giác sáng. Đối với đạo lý thì thích tìm hiểu và bàn luận theo một mệnh đề mà quên tâm (mê bản tâm). Nghe răn nhắc thì phản ứng và thích nghị luận theo chiều hướng đúng và sai, không có đức dụng tiêu hóa hai bên để trực nhận tự tánh... Do đây nên bản ngã ngày càng tăng, đạo nhãn thì càng tối, tu không tiến bộ.
v Trụ sẽ thiệt thòi lớn trong công phu
Khi trụ vào một chỗ nào đó, tức đã bỏ quên chân tâm vốn tự trùm khắp. Nếu trụ vào tâm, tức đã biến tâm thành một thể như thế nào đó để có chỗ trụ. Lúc này, tâm đã biến thành tướng sở duyên, không phải là bản tâm chân thật. Hơn nữa, trụ tâm như thế là đã kẹt tâm, không được khai phóng, trái với bản thể hoát toang thông thống sẵn đủ nơi mình. Mặt khác, hành giả dụng công, hễ vừa có trụ, tức đã âm thầm có kềm đè trong vi tế. Kết quả sau đó thường xảy ra các phản ứng phụ dữ dội, làm trở ngại công phu, đôi khi khó tiếp tục tu tiến. Tất cả những an trụ trên đều tạo điều kiện cho bản ngã có nơi ẩn náu, khiến mê lầm, chấp ngã, làm chướng ngại việc tiến đạo.
Tóm lại: Trụ, tức đã trụ vào một chỗ nào đó, chưa phải chân tâm vô trụ. Trụ vào chỗ lóng lặng, vắng bặt, đó chưa phải là đạo chân thật, nên bị ngăn ngại. Chấp vào sở đắc, sẽ sanh bệnh trong công phu. Trụ là nguyên nhân khiến bản ngã có nơi ẩn náu, lớn mạnh, làm chướng đạo. Hành giả có công phu chuyên sâu, bản ngã không đơn thuần là thô ngã phàm tình, mà có khi là sự chấp ngã sâu kín do tâm thuần tịnh biến hiện vi tế, khó nhận biết. Vì vậy khi tu tập, cần chín chắn để khế với bản thể tự tánh vô sanh, hợp với đạo lý chân thật vô tướng, mới tiến đạo.
5. DIỆU HẠNH VÔ TRỤ LƯU XUẤT TỪ BẢN TÂM
Phan duyên theo cảnh, tức mê, trái với công phu tu tập. An trú tự tâm thì vẫn chưa rời chỗ nơi, thấy có tâm để trụ vào nó, trái với chân tâm sẵn vậy, vốn tự thênh thang, trùm khắp. Cả hai trường hợp trên đều chưa rời sở duyên, còn trong tạo tác, rơi vào hai bên sanh diệt, không khế hợp đạo lý chân thật. Khéo nhận bản tâm vô trụ, không nơi chốn, mới hợp đạo. Không ở vào một nơi nào, cũng không phải ở vào tất cả chỗ. Bặt dấu vết, bất động, nhưng rạng ngời, linh thông đến chủ động vẫn không thấy có tướng để động. Lúc này, tới lui, làm lụng, đối duyên xúc cảnh vẫn không khác tự tánh vô tướng không động này. Hành giả đạt đến “Oai nghi tịch tĩnh” như thế, đức Phật dạy điền địa này là “Diệu hạnh vô trụ”. Hạnh là chỉ cho tất cả các hành động và việc làm đều như pháp, nhưng vô tướng, không động cho nên được gọi là diệu hạnh. Hành giả đạt đến điền địa này, tùy duyên, tùy thời đến đi… mà không thấy có tướng đi đến gì. Đức dụng này được lưu xuất từ tự tánh vốn tự thênh thang, không nơi chốn (vô trụ), nên nói “Diệu hạnh vô trụ”.
Muốn đạt đến rốt ráo như thế, trước tiên hành giả cần xác quyết cương lĩnh lập trường trong tu tập. Tu hành cốt yếu phải sáng tâm, ngoài ra, tất cả đều không có giá trị. Trên cơ sở lập trường đó để thực hành công phu. Khi đối duyên xúc cảnh, khéo suốt qua tất cả, không dừng trụ vào bất cứ gì hoặc ở đâu cả. Ngay đây, tâm rạng ngời, thơ thới, để không tạo nên dấu vết của tâm, không thấy có tâm để an trụ. Tới lui sinh hoạt hoặc làm tất cả việc cũng bằng một tâm như thế, mới tiến đến diệu hạnh vô trụ. Khéo dụng công như vậy sẽ khế tự tâm, công phu tự suốt thông, tiến đạo, không ngăn trệ.
6. TU TẬP XUẤT PHÁT TỪ TÂM
Đối trước một sự giáo hóa, nhưng có nhiều tác dụng, bởi cách dụng tâm của mỗi hành giả. Dồn tâm vào công phu tu tập, sẽ thấy cảm động khi nghe pháp. Nếu quan tâm các Phật sự thì lại thấy được cái hay trong khi thừa hành công việc. Đây là do chỗ quy hướng, do việc dụng tâm của mỗi căn cơ không đồng nhau.
Hành giả dồn tâm chuyên sâu, sẽ có cơ hội tiến sâu tâm chứng. Nhưng phải khéo trừ sự an trú, khiến bản ngã tăng trưởng, chấp cứng, chướng đạo. Khi gặp duyên phải thừa hành Phật sự, nếu khéo ngay trên công việc để dụng tâm, hoạt dụng sẽ được phát huy, đạt đến dung thông, viên mãn. Tuy nhiên, phải cẩn thận để tránh sự xao nhãng khiến lười ngồi tu. Việc này bản thân phải tự xét lại công phu và thật thà với chính mình.
Hành giả sống bằng chân tâm thì tự mình an lạc, thoải mái, không cảm thấy bị áp lực trong công phu hoặc quan trọng bất cứ gì. Khéo tùy thuận tất cả, tùy duyên trên các công việc, nhưng vẫn thấy rõ tất cả đều như huyễn, không động. Nói hay nín, làm hoặc dừng như co và duỗi cánh tay, tùy thời, tùy duyên, không dính kẹt. Như thế, đạo tự sáng ngời, viên dung. Dụng tâm đã đúng đạo, tất nhiên sẽ tự tiến đạo, không thể khác.
Thực tế, hiện nay đây, đối với tất cả cảnh duyên, tình huống, hoàn cảnh hay sự việc…, chúng ta đang thoải mái, lặng an, tự tại thấy nghe bình thường, lưu thông; hay căng thẳng, quan trọng mọi thứ để nhận định về các vấn đề? Đang tự sáng biết; hay biết theo sự việc, nhận định về hiện tượng? Đang vô tướng, thênh thang mà biết khắp, không động, đúng với thể của chân tâm trùm khắp; hay trong tâm có một vật khiến mình phải bảo vệ và đi theo chiều hướng của nó, cho tâm bị ngăn trệ? Câu trả lời đã có trong phần vừa trình bày trên. Chín chắn kiểm tâm, sẽ tu tốt.
7. ĐỂ ĐƯỢC CÂN BẰNG CÔNG PHU
v Luôn sống bằng chân tâm
Hạ thủ công phu tu Thiền, khéo dụng thẳng đến chân tâm, ngoài ra, không việc khác. Sống bằng tâm giác sáng, thênh thang, vô trụ. Bằng tâm thơ thới, thoải mái, bình thường để tâm ấy tự thấy nghe sáng biết, sẽ không tạo nên tướng của dụng công hay bất kỳ dấu vết nào của tâm. Ngay đó, chân tâm hiển hiện, rạng ngời. Không quan trọng để phải nghe theo mọi thứ rồi phân tích, vô tình bỏ sót chân tâm.
Cụ thể, hiện nay đây, chúng ta đang ở ngay thể chân tâm thì tâm tự sáng biết. Không cần phải biết về cái gì đó mà nó tự biết khắp, không động, sáng ngời. Không quan trọng bất cứ gì để phải vin theo lời, phân tích tìm đúng sai, có lý hoặc phi lý. Hễ vừa phan duyên là đã mê chân tâm, quên mình theo vật. Người có đạo,dù cảnh duyên có oan nghiệt hay ngang trái đến đâu thì cũng chọn đạo, giữ đạo tâm. Khác với việc thiếu tu hành,dù ở trong cảnh thuận, có nhiều lựa chọn, cũng lựa chọn con đường đấu tranh, sanh tử, chỉ mê lầm, chuốc lấy khổ đau.
v Không ích kỷ, nhỏ nhoi
Quan trọng bản ngã, tâm thường nhỏ hẹp. Tâm vị kỷ, nhỏ hẹp, bản ngã đã ngủ ngầm trong đó. Vì thế, sẽ không nhớ đến nỗi khổ niềm đau của người khác. Biểu hiện, thường muốn giành phần lợi thế về mình. Lời nói, việc làm, hành động dễ làm tổn thương người khác, cũng là tổn thương tâm từ bi chính mình. Các sai lầm và pháp ác từ đây dấy khởi, chướng ngại đạo tâm.
v Thi ân – Bố đức (Phát tâm)
Khi phát tâm vì người khác hoặc tích cực với công việc chung, tâm mình sẽ thoáng rộng, trừ được sự nhỏ nhoi. Không kẹt trong nhỏ hẹp, liền thành cao xa, giúp tâm mình rộng lớn. Kết quả,đối trước các tình huống, thấy mọi việc đều bình thường, không có gì quan trọng như mình vẫn nghĩ. Nhờ sự rộng lớn cho nên nhìn bằng tâm từ bi. Do đây, trí tự sáng, tâm bình thường, năng lực của tâm càng lớn mạnh. Nhờ vậy mà xử lý, hành xử mọi chuyện sẽ khế tâm chân, hợp đạo, không tổn đức, tất cả đều được vẹn toàn, viên mãn.
v Thanh tịnh – Không can thiệp tất cả
Người có trí tuệ sẽ không xử lý trên sự việc mà biết nâng cao tầm nhìn để sự việc không còn giá trị chi phối. Hành giả tu hành cũng vậy, không can thiệp trên bất cứ gì mà biết an định, thanh tịnh tự tâm, trở lại bản tâm thênh thang thì tất cả tự vắng lặng, tiêu dung tất cả (tất cả tự tiêu dung). Cụ thể, đối trước mọi hoàn cảnh, tâm hằng lặng trong, sáng ngời, không lăng xăng luận bàn, tư duy, suy nghĩ trong hai bên thị phi... thì tất cả cũng tự lặng trong, thanh tịnh. Nếu thích các pháp đấu tranh thì biết căn lành, chủng duyên đối với Bát-nhã cạn mỏng. Đó chỉ là tập khí của phàm phu, không có đạo lý gì trong ấy.
8. KẾT LUẬN
Xác quyết công phu tu tập phải từ chân tâm, không sai khác. Khi nào chưa thành Phật thì con đường tu hành chưa viên mãn. Không trụ trước vào bất cứ pháp hữu vi nào. Không lập phần hạn của tâm để thấy tâm là như thế nào đó và an trụ. Không thấy có sở đắc để thủ chứng. Hằng sống bằng tâm vô trụ thì tự ngã không có chỗ để an thân lập mạng. Được vậy, mới có lúc tất cả tự rơi rụng, vỡ vụn, vắng bặt, bất ngờ như tự trả lại bản tâm vốn tự thênh thang sẵn vậy lâu rồi.
Muốn vậy, hành giả phải khéo dụng công khế hợp chân tâm. Xem tất cả các pháp đều không có giá trị. Không vì bất cứ gì để phải đánh mất công phu. Chỉ nhắm đến trọng tâm vì việc lớn sanh tử của chính mình và mọi người. Như thế, tâm tự khoáng đạt, khai sáng, lòng đầy từ bi. Bản thân đã có trí tuệ nên tự thấy biết đúng đắn, hành xử khế đạo giác ngộ giải thoát, tất yếu công phu tu hành tự tiến bộ, không cô phụ chính mình.
