Thứ Bảy 14/2/2026 -- 27/12/2025 (Âm lịch) -- 2570 (Phật lịch)
Cái tôi hoàn lại đất trời, trả tôi mặt mũi muôn đời chưa sanh. Chẳng rời trước mắt thường lặng trong, Còn tìm liền biết anh chưa thấy

Sách: Khéo Dụng Tâm - Khéo Dụng Tâm

 

KHÉO DỤNG TÂM 

1.   KHÁI QUÁT

Thực tế cuộc sống của mỗi người, bên ngoài là bản thân tiếp xúc với các tình huống, hoàn cảnh. Bên trong thì chính mình đối diện với các tâm tưởng của mình. Cuối cùng, mang lại kết quả như thế nào đều do tâm của chúng ta quyết định. Tâm thiếu sáng suốt, không tự chủ thì hành xử, tạo tác mang lại khổ đau. Nếu biết lựa chọn và hướng tiến đúng đắn, sẽ đưa đến an vui hạnh phúc. Và hành giả khéo tu tập thì đạt đến tự tại giải thoát. Việc hạ thủ công phu cũng ngay trọng tâm rất thật ấy.

Khi sống, bàn bạc, làm việc, thường lưu lại trong đầu những tư tưởng nghĩ suy. Đúng ra, chúng chỉ là những bóng dáng không thật. Nhưng do chúng ta chưa đủ tỉnh lực, có khi là lầm chấp cho nên những ảnh ảo kia lại có tác dụng chi phối, khiến con người bất ổn, khổ đau. Muốn giác ngộ giải thoát thì phải biết cách hàng phục, vượt thoát. Hành giả dụng công chính tại chỗ này.

2.  DỤNG TÂM CHƯA KHÉO

a)  Đối diện

Khi tiếp duyên xúc cảnh, nếu cho rằng phải đối diện để chuyển hóa thì vô tình tạo thành khái niệm đối diện và can thiệp trên tướng, tức đã phan duyên. Hễ có khái niệm tức tâm tưởng đã có, ngăn cách chân tâm. Khi vừa phan duyên thì thức mê đã sanh, do đó sẽ tự nhiễm trước. Chỗ này sâu kín. Hành giả phát hiện các dính mắc để buông thì chỉ là thấy những kết quả đã dính mắc rồi. Căn nguyên là thức bên trong nó tự động dính mà không cho chúng ta biết. Nếu không khéo, việc tu tập buông xuống cũng chỉ buông được phần nổi. Còn phần sâu kín bên trong của thức mê này thì buông như thế không thể sạch được. Đây là lý do dụng công nhiều, nhưng kết quả thì khiêm nhường, không như mong đợi, buông mãi mà chúng vẫn cứ còn hoài.

b)  Đè nén, tấn công niệm

Đè nén, không cho niệm khởi thì cũng giống như dùng đá đè cỏ, không mọc chỗ này sẽ chuyển hướng sang chỗ khác. Hoặc có khi dùng sức giác mạnh để tấn công tìm đến tận cùng của vọng tưởng là gì. Hành giả dụng công bằng các phương cách trên sẽ cảm thấy mình có tu tập nhiều cho nên có cảm giác thỏa mãn. Ban đầu tâm sẽ tạm lắng và có kết quả nhất định. Nhưng một thời gian sau sẽ xảy ra nhiều tác dụng phụ nguy hiểm. Điển hình như căng thẳng, mất ngủ, dễ bực bội, cáu gắt, đau đầu, ngực nặng khó thở, lưng căng cứng và nặng như có tảng đá đè lên, hoặc trạo cử nhúc nhích không yên, không tọa thiền được... Cuối cùng không thể tiếp tục công phu.

c)   Lảng tránh, phớt lờ

Cố tình lảng tránh, phớt lờ thì có thể tránh được cảnh ngoài. Nhưng như thế đã vô tình thầm cho cảnh là thật, nó có giá trị để mình phải sợ và né tránh. Vì thế, ngay khi nhắm mắt quay lưng thì hình ảnh của chúng đã in vào trong đầu rồi, tránh đâu cho được.

Hơn nữa, cách thực hành như trên cũng gần với bệnh nhậm, tức để mặc tình, mặc kệ. Khi muốn để mặc tình, mặc kệ, tức đã rơi vào khái niệm, vẫn chưa lìa niệm. Mà hễ còn một niệm nào đó thì bản chất cũng giống với tất cả niệm. Bởi còn trong thức mê thì niệm còn có cơ sở để tồn tại. Chúng ta có thể dùng phương pháp lảng tránh hoặc mặc tình để cho qua một vài tâm tưởng nào đó, nhưng điều đó không có nghĩa là sạch hết tất cả vọng niệm nên không có giá trị. Bởi nếu còn các niệm khác thì vẫn còn y nguyên trong mê cho nên giá trị chi phối cũng tương tự, không hết khổ và an vui tuyệt đối. Quan trọng là phải biết diệu chỉ hàng phục tất cả niệm đều không, mới đạt đến giác ngộ giải thoát. (Sẽ nói rõ tại mục ‘Khéo dụng tâm” ở sau).

Bên cạnh đó, cách dụng công này dễ đưa hành giả rơi vào trạng thái gần với vô minh; như là tâm tưởng lơ lửng, mênh mang, nhận biết mọi vấn đề kém... không hợp đạo.

d)  Dùng cái biết mạnh để ngự trị và tiêu diệt vọng tưởng

Không quan tâm đến vọng tưởng, hành giả chỉ đề lên cái biết thật mạnh thì vọng tự rút lui, chỉ còn toàn cái biết. Tiếp tục duy trì cái biết mạnh thêm thì nó sẽ ngự trị và chiếm lĩnh hết không gian của tâm, không còn chỗ cho vọng tưởng dấy khởi. Lúc này, trong tâm thấy an và sáng biết mạnh, không vọng hoặc vọng chỉ thưa và yếu ớt, hành giả ngỡ rằng chân tâm hiện tiền, vọng đã được hàng phục. Nhưng thực sự thì chưa phải.

Kết quả thực tế là đến khi bệnh nặng hoặc thân và tinh thần quá yếu sắp lâm chung thì tất cả sinh hoạt trong đời bỗng cùng lúc ùa về như một cuốn phim, không hề mất. Nó cuộn trào, dồn dập tới tấp, rất nhanh và mạnh, đến độ khiến chúng ta rối loạn, mất kiểm soát và sợ hãi. Như thế, sẽ bị nghiệp dẫn dắt đẩy vào luân hồi trong bất lực. Đây là sự thật đã có hành giả kinh qua.

Bởi cái biết được lưu xuất từ chân tâm không phải như vậy.

Thiền sư Nam Tuyền nói: “Đạo chẳng thuộc biết và chẳng biết. Biết là vọng giác, không biết là vô ký. Nếu thật đạt đạo thì chẳng nghi. Ví như hư không thênh thang, rỗng rang, đâu thể gắng nói phải quấy?”.

Biết là đối lại với chẳng biết; đây là thuộc về đối đãi, do đó, cái biết này thuộc về vọng giác, chưa phải đạo. Đúng là đạo thì chân tâm tự thênh thang biết khắp, nơi nơi sáng sạch không ngăn ngại, chứ không phải chỉ có cái biết trước mặt, có chỗ nơi. Nếu lập nên một cái biết như thế nào đó, hoặc đề lên cái sáng biết cho mạnh là đang tạo tác, cái biết do mình làm ra, chứ không phải chân tâm rỗng rang tự sáng biết.

Đồng thời, khi dùng cái biết mạnh để tấn công và ngự trị như vậy thì vọng tự rút lui, nhưng không mất. Bởi chưa khế chân tâm nên thức mê chưa dứt sạch thì các chủng tử nghiệp thức vẫn còn lưu lại trong tàng thức. Khi đủ duyên thì chúng trỗi dậy mạnh mẽ khiến chúng ta hoảng hốt và kinh sợ đến bất lực, mất kiểm soát.

3.  KHÉO DỤNG TÂM

a)   Bình thường – Không mê

Không ứng dụng theo tất cả những phương cách cực đoan trên. Chỉ là ngay đây, khéo điều chỉnh thân ngay ngắn, thông suốt; tâm bình thường, không dấu vết, không mê thì chân tâm tự sáng biết, lưu thông, trùm khắp, không ngăn ngại. Lúc này, muốn không biết cũng không được, chứ không phải tạo nên một cái biết rồi gìn giữ nó. Một cách vắn tắt, thẳng thắn: “Chỉ là bình thường, không mê thì tâm tự sáng biết. Không làm thêm bất cứ gì trong đó”.

Khi sinh hoạt, làm tất cả các công việc cũng bằng tâm rỗng sáng thênh thang như vậy thì chân đi, miệng nói, tay làm, nhưng vẫn thông suốt, lặng an, sáng biết, không chút trệ ngại.

Lúc tọa thiền, hành giả chỉnh thân ngay ngắn, không gắng gượng mà buông thư, rỗng suốt, sáng ngời, không can thiệp trên niệm thì niệm còn hay hết thảy đều tự lặng trong, không dính dáng. Theo thời gian, lực giác sáng mạnh thì tất cả tự vắng lặng.

Vậy thì, niệm còn mà vẫn trong lặng, hay phải dứt bặt niệm, mới trong lặng?

Cả hai còn nhằm trên niệm, chưa rời tướng niệm, tức đã quên tâm thì lấy gì để trong lặng? Chỉ là bặt dấu vết, bình thường, không mê thì tâm tự sáng biết, chứ không can thiệp trên vọng. Công phu đắc lực, vọng tự mất giá trị chi phối. Vọng còn hay hết, đều không can hệ thì tâm tự lặng trong, sáng ngời, tự tại.

Như thế là đang sống bằng định lực và tuệ lực của tự tâm, vọng tự vô hiệu hóa. Sắp lâm chung, lực dụng mạnh nên lúc này chỉ là chân tâm sáng ngời, các vọng không có giá trị chi phối. Nếu vị nào hằng ngày dụng công chưa đủ mạnh, cuốn phim cuộc đời có hiện ra thì nhờ dụng công đúng pháp như trên cho nên chỉ sống bằng chân tâm thênh thang, các vọng cũng tự lưu thông bình thường, không can hệ, còn tâm thì đã thuần thục nên tự nó giác sáng. Nếu hành giả đã ngộ tâm tánh thì vọng tự dứt bặt, không còn. Vị này tự biết lối đi, không cần bàn thêm.

b)  Minh định

Chứng Đạo Ca, Thiền sư Huyền Giác nói:

Rành rành thấy, không một vật,

Cũng không người chừ cũng không Phật.

Đại thiên sa giới bọt nổi trôi,

Tất cả Thánh Hiền như điện chớp.

Ngài nói, chân tâm thấy biết rõ ràng, không một vật. Không người, cũng không Phật, tức vượt năng sở ta và Phật, thấy biết như thị. Ngài khẳng định, không phải không có gì mà thấy rõ tất cả cõi nước như bọt biển, tức đều huyễn hóa; thấy tất cả Thánh Hiền như điện chớp, tức là không còn kẹt hai bên Thánh và phàm. Thực tế, khi ngộ chân tâm, tâm tự vượt thoát và thực thấy như thế, không động; chứ không phải thấy qua hiểu biết rồi thấm nhuần trong khi vẫn còn tâm tưởng loạn động. Chính vì từ chân tâm mà thực thấy cho nên tự mình thấm nghiệm và bất động, sáng ngời. Sức sống này cho hành giả tự tại, tiêu sái mà tích cực trong việc lợi sanh không nề lao nhọc, chứ không phải có một điều kiện hay trạng thái tâm như thế nào đó để được an nhàn.

Bình thường, không dấu vết, không mê thì tâm tự sáng ngời, thấy tất cả rành rành mà không động, không dính dáng, vẫn bất động; chứ không phải không thấy gì, hoặc không có vật gì. Nắm vững yếu chỉ này thì công phu không sai lệch. Hạ thủ phải khế tâm tánh như thế thì mới ngộ tánh, không sanh các chướng ngại hoặc mang lại kết quả không như mong muốn.

  1. 4.   KẾT LUẬN

Dù ở đâu thì chúng ta cũng là một sự sống đối với mọi thứ luôn tiếp diễn. Mê muội theo cảnh thì bất ổn, khổ đau. Khéo tu, giác sáng thì vượt thoát, an lạc, tự tại. Nếu phải giác biết như thế nào đó, tức đã tạo tác, khác bình thường cho nên có lúc sẽ mỏi, không thể tiếp tục.

Tu tập chỉ là bình thường, nhưng tìm một vết mê không ra thì tâm tự lưu thông, sáng biết. Chỉ có cái bình thường như thế thì mới thường hằng mãi mãi luôn luôn như thế, không biến đổi. Như ngài Triệu Châu nói, các bậc Tổ đức từ trước đạt đến rốt ráo tột cùng cũng chỉ bình thường như cũ, không có vị nào không từ trong chỗ như cũ mà được[13].

Chúng ta sống là một cuộc sống bình thường. Khi tu, cũng phải bình thường thì mới trường viễn. Không thấy việc dụng tâm khác với cuộc sống cho nên không bị gián đoạn. Nếu tu theo bất cứ kiểu gì khác bình thường thì theo thời gian cũng sẽ bị thay đổi, không ổn định, không đạt được giác ngộ giải thoát.

 


RẮN CHẾT – RẮN SỐNG

Thiền sư Hổ Khưu Thiệu Long, đời thứ 12 tông Thiền Lâm Tế. Sư  thượng đường dạy chúng xong, cầm gậy vạch một lằn nói: “Rắn chết trên đường chớ đập chết, giỏ tre không đáy bỏ mang về.” Là ngài muốn chỉ bày việc gì?

Thấy thì thẳng đó liền thấy. Không thấy thì con rắn đã chết, không thể nào nhận ra.

Con rắn sống, mỗi người phải khéo nhận lại nơi chính mình. Đợi nói, chỉ có thể là con rắn chết. Tuy nhiên, nếu hành giả khéo nghe mà nhận được, sẽ khiến cho con rắn bị chết vô lượng kiếp, hôm nay liền đó được sống lại.

Xem! Xem! Đừng để đầu gậy Thiền sư lừa. Hãy xem, khi ngài Thiệu Long đưa cây gậy vạch vào hư không, lấy cái gì để thấy biết? Nhằm chỗ nào để thấy biết? Thấy biết cái gì?

Rõ ràng không có con rắn nào ở đó cả; chỉ là đầu gậy đang biết nói. Nói điều gì? Đừng suy gẫm nữa! Hãy nhận thẳng tánh mình, sẽ hay ra: “Khi chưa đưa cây gậy, cái ấy đã sẵn”. Đã đưa gậy, cũng không phải là việc gì khác. Hiện nay đây, không thiếu. Đây là đầu thứ nhất, phải khéo nhận, không cho hiểu. Nếu chưa thể như thế thì sang đầu thứ hai để suốt thông diệu lý Phật Tổ, thầm nhận lại nơi mình, hy vọng thấy ra.

Sư nói: “Rắn chết trên đường chớ đập chết, giỏ tre không đáy bỏ mang về.”.

Rắn đã chết lâu rồi, không cần đập cho chết nữa. Không ai lại đi đập con rắn đã cứng đờ, không còn sống. Có nghĩa: Sự thật, vọng tưởng, các pháp vốn không thật (con rắn đã chết). Nếu nhận tột bản chất rỗng tuếch này, hành giả dụng tâm không nên trừ dẹp hay can thiệp gì trên chúng (đừng đập chết con rắn đã chết) mà chỉ là giác sáng, không mê, ngay đó đang miên mật công phu. Thảng như vừa có mảy may làm gì, tức đã rơi vào tạo tác sanh diệt, là đã quên bản tâm, mê tự tánh, không định tuệ, không khế với đại đạo giác ngộ giải thoát, tu hành vô lực.

“Giỏ tre không đáy bỏ mang về”.Giỏ không đáy là ngầm chỉ cho bản tâm vô tướng, vốn vô nhiễm, không một vật, không chứa đựng gì, bởi không gì chạm đến được. Bỏ mang về mà thật không có gì để mang về đâu cả. Tức là trở lại tự tánh thì liền là không vọng, vọng tự dứt bặt, tiêu dung trong tánh mình; không đi đâu về đâu và cũng chẳng có gì để đi về đâu cả. Khi ấy, các pháp cũng trở nên trong lặng, vượt thoát năng sở, có không.

Như bóng đen, khi tối thì tạm có, nhưng sờ vào thì bóng tối vốn không có gì, nên không thật. Mở đèn thì mất, chứ bóng tối cũng không đi về đâu, bởi bản chất nó không có gì. Cũng vậy, khi mê thì tâm dấy động trở thành vọng, biến hiện các pháp cũng hư vọng, như bóng tối, không có thật, dụ như “con rắn đã chết”. Trở lại bản nguyên thì vọng tự tiêu dung, trả lại tự tánh uyên nguyên vốn sẵn chứ cũng không thấy có vọng là gì, nó được tiêu tán như thế nào hoặc là đã trở về đâu cả. Đây là nghĩa Giỏ tre không đáy bỏ mang về. Lúc này các pháp trở nên sáng trong, rạng ngời hơn bao giờ cả; bởi tất cả là một sự hiển hiện nơi tự tánh chánh định chính mình.

Cho thấy, hành giả dụng tâm tu tập, nếu có làm gì là đã rơi vào dấu vết, là tạo tác, là đang cố dẹp trừ mọi thứ mà bản thân nó vốn không có gì; đây là đi đập cho chết một con rắn đã chết. Các pháp xưa nay không, ví như con rắn đã chết lâu rồi thì không cần can thiệp thêm gì trên chúng, được Thiền sư Thiệu Long ví như không nên đập con rắn đã nằm bất động. Chỉ cần không mê lầm, không theo các pháp thì tất cả không làm gì được mình.

Như vậy, “không làm gì cả” là một cách dụng tâm chứ không phải lười biếng, buông lung, hay hời hợt thả tâm lãng đãng. Không làm gì, nhưng sáng biết, sẽ khế tự tánh, mới có lúc bừng ngộ, mới sáng ra đầu gậy Thiền sư Thiệu Long khai thị, tỏ được cái giỏ tre không đáy nơi mình.

Tóm lại, đừng cố tìm hiểu; hiểu chỉ là con rắn chết. Hãy ngay đầu gậy hay vạn tượng đang diễn bày trước mắt sáng ra; sẽ thấy con rắn đang sống sờ sờ. Thiền sư Thiệu Long nói con rắn chết, nhưng nó lại sống đến thời Thiền sư Đức Quang Phật Chiếu sau này vẫn còn[14], và sống cho đến tận bây giờ cho chúng ta cũng được nhìn thấy. Một con rắn kỳ diệu!

Ngay đây, nếu chưa nhận lại thì rõ ràng là con rắn đang chết. Nhưng khéo thấy ra, mới hay: Xưa nay chưa từng chết bao giờ!

 

 

 



[1] Việc này đã được trình bày đầy đủ trong sách “Dụng công tu thiền”.

[2] Xem đầy đủ tại Sơ Đẳng Phật học Giáo khoa Thư, Bài 18: Điều Phục Hai vị Tiên, trang 167. Hoặc Đức Phật và Phật Pháp, trang 35,36.

[3] HT. Thích Minh Châu dịch (2012), Kinh Trung Bộ 1, “29. Đại kinh thí dụ lõi cây”, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 250.

[4] HT. Thích Thanh Từ (2015), Sđd, tr. 352. (Có chỗ nói: Đất tâm không si là tuệ).

[5] Quốc Sư Thông Biện, Việt Nam nói rõ chỗ này: “Rõ biết tâm tông của Phật, hạnh và giải tương ưng, gọi là Tổ”.

[6] HT. Thích Minh Châu dịch (2012), Sđd, tr. 250.

[7] HT. Thích Thanh Từ (2015), Thanh Từ Toàn Tập - Tập 17, “Kinh Pháp Bảo Đàn giảng giải”, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 29.

[8] HT. Thích Thanh Từ (2018), Thanh Từ Toàn Tập - Tập 31, “Thiền sư Trung Hoa giảng giải”, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội, tr. 168.

[9] HT. Thích Thanh Từ (2015), Sđd, tr. 33.

[10] Trung Quốc Thiền Tông Đại Toàn, bản chữ Hán, trang 521.

[11] Các bước căn bản thực tập Thiền đã biên tập trong sách Dụng công tu Thiền.

[12] Hòa thượng Thiền sư Thích Thanh Từ.

[13] Ngài Huệ Hồng dẫn lời Thiền sư Triệu Châu: “Hết thảy chỉ như cũ. Các bậc Thánh từ trước, không có ai chẳng từ trong chỗ như cũ mà được.”.

[14] Ngài Đức Quang có nhắc lại lời này khai thị chúng.

 

 

 

Gá thân mộng
Dạo cảnh mộng
Mộng tan rồi
Cười vỡ mộng

Ghi lời mộng
Nhắn khách mộng
Biết được mộng
Tỉnh cơn mộng

HT Thích Thanh Từ
a

Bài đọc nhiều nhất

Thống kê truy cập

3133987
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả
359
4146
359
3105839
57135
133804
3133987